Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại

Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trong bài viết này, luanvantaichinh.net xin chia sẻ đến bạn nội dung về cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại.

1. Vốn tự có

Vốn tự có là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Nếu là NHTM quốc doanh thì vốn này do ngân sách chuyển sang, nếu là NHTM cổ phần thì vốn này là do các cổ đông góp vốn, nếu là ngân hàng liên doanh thì do vốn góp của các bên đối tác, còn nếu là chi nhánh của ngân hàng nước ngoài thì vốn này là của ngân hàng nước ngoài đưa vào. Vốn tự có bao gồm: 
Vốn điều lệ: Là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động, được ghi trong văn bản pháp quy và vốn điều lệ tối thiểu phải bằng vốn pháp định (vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định). 
Các quỹ dự trữ: được trích từ lợi nhuận hàng năm bổ sung vào vốn tự có, bao gồm: quỹ dự trữ để bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ đặc biệt để dự phòng bù đắp rủi ro. 
Vốn khác: như chênh lệch do đánh giá lại tài sản (chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, chênh lệch giá vàng, đá quý),… 
Vốn tự có là nguồn vốn ổn định, nó chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhưng vốn tự có có vai trò khá quan trọng vì nó phản ánh được sự “giàu có và vững chắc” cả một ngân hàng, vừa là cơ sở pháp lý vừa là nguồn bảo đảm tiền gửi của khách hàng, nó là cơ sở để khẳng định sức mạnh, vị thế của một hút và duy trì quan hệ ngân hàng đối với các đối thủ cạnh tranh khác trong việc thu với khách hàng gửi tiền. 
Tuy nhiên, không phải vốn tự có càng lớn thì ngân hàng càng hoạt động tốt mà cần phải hòa hợp sao cho lợi tức mà ngân hàng nhận được không quá ít nhưng đồng thời sức mạnh, vị thế của ngân hàng vẫn đảm bảo tính cạnh tranh.
Vốn tự có được gia tăng trong quá trình hoạt động, song vẫn luôn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn và nguồn vốn kinh doanh chủ yếu của ngân hàng vẫn là nguồn vốn huy động. 

2. Nguồn vốn huy động 

Tiền gửi là một bộ phận quan trọng trong tài sản nợ của ngân hàng, được hình thành từ các khoản ký thác của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội, Đối với các ngân hàng nguồn vốn tiền gửi là nguồn huy động chủ lực, thường chiếm khoảng 80% trong cơ cấu nguồn vốn huy động, Đây là nguồn chủ yếu để các ngân hàng duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của mình đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho khách hàng. Vì vậy, nghiệp vụ huy động tiền gửi được tiến hành một cách thường xuyên, là đặc trưng cơ bản trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên trong hoạt động huy động tiền gửi, ngân hàng lại ở thế bị động vì nguồn vốn tiền gửi phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn của người gửi tiền, ngân hàng không thể biết chính xác lúc nào họ sẽ đến gửi tiền hay rút tiền với số lượng là bao nhiêu. 
Trong nghiệp vụ huy động tiền gửi, các NHTM cung cấp nhiều sản phẩm tiền gửi khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. 
Tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng phản ánh mối quan hệ kinh tế, pháp lý giữa ngân hàng với người gửi tiền nên giữa ngân hàng và người gửi tiền phải có hợp đồng để ràng buộc trách nhiệm được thể hiện dưới hình thức giấy đề nghị mở tài khoản và đăng ký chữ ký mẫu của chủ tài khoản,…
Có thể xếp các loại hình tiền gửi theo ba nhóm chính: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. 
Khi mở các tài khoản tiền gửi này, khách hàng có thể được hưởng lãi hay không hưởng lãi theo quy định của ngân hàng, và ngân hàng có trách nhiệm hoàn trả vốn và lãi đầy đủ, đúng thời hạn cho khách hàng. Số dư trên tài khoản tiền gửi có thể được cầm cố để vay vốn tại ngân hàng, khách hàng gửi tiền vào ngân hàng nhằm đạt được những mục đích sau: sinh lời, tiện lợi trong sử dụng tiền, an toàn, thụ hưởng các dịch vụ liên đới,…

2.1. Tiền gửi không kỳ hạn 

Tiền gửi không kỳ hạn (còn gọi là tiền gửi giao dịch) là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích chính là đảm bảo an toàn về tài sản và sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp để thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng hơn là mục tiêu sinh lời. 
Ngân hàng theo dõi tiền gửi giao dịch trên hai nhóm tài khoản: 
Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn: khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân hay còn gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán, đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi tiền vào và rút tiền ra bất cứ lúc nào. Với loại tài khoản này, quyền sử dụng tiền trên tài khoản không thể vượt quá số dư có của tài khoản tại thời điểm chủ tài khoản có nhu cầu. Do đó, tài khoản này chỉ được phép có số dư có, và bên có của tài khoản phản ánh các khoản tiền của khách hàng gửi vào, chuyển vào bên nợ thì phản ánh các khoản chi tiêu của khách hàng. Như vậy, quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng trên tài khoản này luôn là quan hệ giữa chủ nợ (khách hàng) và con nợ (ngân hàng). Thông qua tài khoản này, ngân hàng có thể cung cấp thêm các dịch vụ bổ sung đi kèm như: dịch vụ thanh toán thẻ, ATM,… vừa đa dạng danh mục sản phẩm vừa tăng thu nhập cho ngân hàng vừa giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông đồng thời ngân hàng cũng tập trung được nguồn vốn to lớn đáp ứng nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế. 
Tóm lại, tiền gửi thanh toán là nguồn vốn có tiềm năng, chi phí rẻ, không phải chịu áp lực cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng không thể sử dụng phần lớn nguồn vốn này để cho vay trung, dài hạn, ngân hàng cũng không thể giảm chi phí lãi, và đây là một nguồn khó thu hút vì phần lớn dân chúng vẫn còn thói quen giữ tiền ở nhà và sử dụng tiền mặt. 
Tài khoản vãng lai: đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản được quyền ra lệnh cho ngân hàng chi trả trong phạm vi số tiền đã gửi vào, còn đối với tài khoản vãng lai, thường áp dụng đối với những khách hàng có uy tín, ngân hàng có thể cho thấu chi đến hạn mức phù hợp với thu nhập bình quân của chủ tài khoản hầu đảm bảo khả năng trả nợ. Do đó, tài khoản này có thể có số dư có hoặc số dư nợ. Bên có của tài khoản phản ánh số tiền mà khách hàng gửi vào hay thu vào như: nộp tiền mặt, séc, chuyển tiền đến, chiết khấu, ủy thác thu cổ tức, lợi tức lãi tiền gửi,…., còn bên nợ thì phản ánh số tiền khách hàng rút ra sử dụng như rút tiền mặt, thanh toán séc, thẻ, ủy nhiệm chi, trả phí, lãi,….luôn cả các khoản ngân hàng trả thay cho khách hàng. 
Đặc điểm của loại tiền gửi giao dịch này là ngân hàng luôn ở thế bị động bởi khách hàng có quyền gửi tiền vào hoặc rút tiền ra bất cứ lúc nào trong phạm vi số dư tài khoản mà ngân hàng không thể biết trước, ngân hàng chỉ sử dụng tiền tạm thời trong thời gian nó nhàn rỗi để làm nguồn vốn, khách hàng giữ thế chủ động trong khi ngân hàng lại bị động trong việc sử dụng, vì thế ngân hàng phải duy trì một mức dự trữ lớn để có thể đáp ứng nhu cầu rút tiền bất ngờ của khách hàng. 
Ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện các khoản chi trả cho khách hàng một cách kịp thời và chính xác, nếu không thực hiện đầy đủ trách nhiệm ấy thì coi như vi phạm hợp đồng và phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu người gửi tiền vi phạm quy định quản lý tài khoản thanh toán và chế độ chứng từ kế toán. 
Tiền gửi giao dịch là nguồn tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn huy động của ngân hàng. Theo xu hướng phát triển của nền kinh tế, các cá nhân, tổ chức trong xã hội ngày càng có nhu cầu thanh toán, giao dịch qua ngân hàng nhằm tiện lợi và an toàn. Các cá nhân có thể chuyển các khoản thu nhập của mình hàng tháng vào tài khoản giao dịch ở ngân hàng, sau đó sẽ thực hiện các giao dịch mua bán chi trả thông qua các dịch vụ của ngân hàng. Các doanh nghiệp cũng vậy, khi nền kinh tế phát triển, các hoạt động phát sinh nhiều hơn, nhu cầu về tài chính của doanh nghiệp được phản ánh thông qua tài khoản tại ngân hàng. Do đó, tiền gửi giao dịch có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn của ngân hàng. 
Tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn rẻ nhất trong nguồn vốn huy động của ngân hàng. So với các loại tiền gửi khác thì tiền gửi thanh toán được xếp vào loại tiền gửi không kỳ hạn, có lãi suất thấp nhất trong các loại tiền gửi, vì thế chi phí cho loại tiền gửi này thuộc vào loại thấp nhất. Tuy nhiên cần phải quan tâm đến chi phí giao dịch mà lớn nhất là các khoản đầu tư vào thiết bị công nghệ ngân hàng, chi phí bảo hiểm tiền gửi, quảng cáo, cơ sở vật chất,…
Tóm lại nguồn tiền gửi không kỳ hạn là cơ sở để phát triển các dịch vụ ngân hàng về ngân quỹ, thu chi nhanh chóng an toàn, đồng thời còn được cung ứng một loạt các dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lời cho khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân thông qua việc mở tài khoản. 
Mở rộng quy mô và phát triển các mặt hoạt động và khai thác đối với nguồn tiền gửi này sẽ làm gia tăng các nguồn ký thác, mang lại sự ổn định tài chính và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Đây là nguồn vốn rẻ, chi phí thấp góp phần xác định cơ cấu dư nợ ngắn hạn hợp lý, có vai trò tạo tiền trong lưu thông. 

2.2. Tiền gửi có kỳ hạn 

Thông thường đây là những loại tiền gửi định kỳ như tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân. Đối với loại tiền gửi này, khách hàng chỉ được rút tiền ra theo một kỳ hạn được quy định trước. Khách hàng gửi tiền sẽ được cấp một sổ tiền gửi, định kỳ được nhận lãi và nhận gốc khi đáo hạn, nhưng không được tham gia thanh toán không dùng tiền mặt. 
Mục đích của người gửi là để được an toàn tài sản và hưởng lợi tức. Do đó ngân hàng phải trả lãi cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn và theo nguyên tắc thời hạn càng dài lãi suất càng cao. Khách hàng chỉ được hưởng toàn bộ số lãi nếu rút vốn đúng hạn. Tuy nhiên, khách hàng cũng có thể rút vốn trước hạn nhưng trong trường hợp này, người gửi tiền có thể vẫn hưởng lãi nhưng với lãi suất thấp hơn tùy theo chính sách của từng ngân hàng. 
Đây là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ được rút tiền ra theo một kỳ hạn được quy định trước nên có độ ổn định cao, nên ngân hàng thường áp dụng nhiều kỳ hạn khác nhau với nhiều mức lãi suất khác nhau để thu hút khách hàng. 
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn có tính ổn định tương đối cao cho nên ngân hàng thường sử dụng vào các hoạt động cho vay và đầu tư có tính lâu dài và khả năng sinh lời cao. Chính vì điều này, các ngân hàng luôn chú trọng vào việc nâng cao tỷ trọng của loại tiền gửi này trong cơ cấu tổng nguồn vốn thông qua chính sách thu hút khách hàng. 

2.3. Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của dân cư trong xã hội nhằm mục đích tích lũy để đáp ứng một nhu cầu chi tiêu trong tương lai và hưởng thu nhập lãi từ khoản tiền gửi đó. Tiền gửi tiết kiệm gồm có nhiều loại như: tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm có mục đích, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm gửi góp,… 
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn 
Là loại tiết kiệm không xác định thời hạn, thời gian gửi và rút tiền tùy theo yêu cầu của khách hàng. Tuy là loại tiền gửi không kỳ hạn nhưng nó không phải là tài khoản thanh toán nên người gửi tiền không được hưởng các tiện ích thanh toán và lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp. 
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được phản ánh trên tài khoản có tên gọi là tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. 
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi tiết kiệm có kỳ hạn chỉ được rút tiền khi đáo hạn. Do đó, đây là một nguồn vốn tương đối ổn định và lãi suất của loại tiền gửi này thường cao hơn các loại khác. Mỗi lần gửi tiền người gửi được nhận một sổ tiết kiệm có kỳ hạn, nếu gửi tiếp thì được coi như gửi lần đầu và được nhận một sổ mới. 
Loại tiền này bao gồm nhiều kỳ hạn khác nhau và nhiều mức lãi suất phụ thuộc vào kỳ hạn gửi, kỳ hạn tiết kiệm càng dài thì mức lãi suất càng cao. 
Loại tiết kiệm này có ưu điểm là khi khách hàng cần vốn đột xuất, họ có thể sử dụng sổ tiết kiệm đem cầm cố để vay vốn tại bất cứ ngân hàng nào với số tiền vay có thể từ 90% đến 100% giá trị của sổ tiết kiệm. 
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích 
Đây là loại tiền gửi ngoài mục đích tiết kiệm thuần túy còn đi liền với mục đích sử dụng của người gửi tiền như: tiền gửi tiết kiệm để mua nhà, tiền gửi tiết kiệm để mua xe, tiền gửi tiết kiệm cho con đi du học,…Với loại tiền gửi này, ngoài việc được hưởng lãi người gửi tiền còn được sự hỗ trợ của ngân hàng để thực hiện mục tiêu đã định. Đây là loại tiền gửi được ngân hàng cung cấp nhằm thu hút, khuyến khích khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng khác.
Và một số loại tiết kiệm khác… 
Tóm lại tiền gửi tiết kiệm có những đặc điểm sau: 
Nguồn gốc của tiền gửi tiết kiệm là những khoản tiền nhàn rỗi, tạm thời chưa sử dụng đến của dân chúng. Vì vậy, chúng có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế. Thông qua hệ thống ngân hàng, vốn đã được chu chuyển hiệu quả từ nơi thừa sang nơi thiếu. Những khoản tiền nhỏ lẻ trong dân cư đã tập hợp thành một lượng vốn khá lớn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm càng cao càng chứng tỏ được hiệu quả và ý nghĩa của hoạt động huy động vốn, vì những khoản tiền không sinh lợi đã được chuyển thành những đồng vốn sinh lợi, vừa đem lại lợi ích cho người thừa vốn, vừa mang lại lợi ích cho người thiếu vốn, vừa tạo được thu nhập cho ngân hàng, vừa giảm được sự lãng phí về vốn, mang lại hiệu quả cho nền kinh tế. 
Đối với ngân hàng, việc duy trì và mở rộng tiền gửi tiết kiệm giúp tạo nguồn vốn hoạt động ổn định cho ngân hàng, nhờ đó ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này một cách có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây là một nguồn vốn tương đối bị động, lệ thuộc rất nhiều vào khách hàng gửi tiền. 

3. Nguồn vốn đi vay (Nguồn vốn phi tiền gửi) 

Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình các ngân hàng đôi khi phải đối mặt với sự thiếu hụt ngân quỹ tạm thời cho việc chi trả tiền gửi. Để tránh tình trạng phải từ chối những nhu cầu tài chính hợp lý của khách hàng vì lý do thiếu vốn, các ngân hàng không thể chỉ trông chờ vào nguồn vốn tiền gửi mà phải chủ động tìm kiếm những nguồn vốn khác còn gọi là nguồn vốn phi tiền gửi như: vay NHNN, vay tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường tiền tệ,… 
Nguồn vốn phi tiền gửi chỉ đóng vai trò hỗ trợ khi ngân hàng gặp tình trạng thiếu vốn. Do đó nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng không lớn nhưng nó khá quan trọng và cần thiết, nó giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng được duy trì hiệu quả. So với nguồn vốn tiền gửi, ngân hàng giữ quyền chủ động lựa chọn nguồn vốn phi tiền gửi cả về chi phí cũng như quy mô nguồn vốn.

3.1. Vay Ngân hàng Nhà nước 

Hoạt động của các NHTM là nhận ký thác và cho vay, các NHTM phải cho vay tới mức mà NHTW cho phép để tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng không phải lúc nào hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng đều thuận lợi, dù cho thận trọng cách mấy trong việc cho vay, các NHTM cũng khó tránh khỏi có lúc thiếu khả năng chi trả hoặc đối mặt với sự thiếu hụt tiền mặt. 
Ngân hàng Trung ương (NHTW) với vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, là cứu cánh là người cho vay sau cùng của các NHTM khi mà ngân hàng này đối mặt với những khó khăn nêu trên, NHTW sẽ thực hiện cho vay các NHTM thông qua cho vay ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn khi mà các NHTM tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng. Trong đó tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM. Các NHTM sử dụng nguồn vốn vay này để cho vay lại khách hàng và nâng cao năng lực thanh toán của mình. 
Hiện nay, NHNN Việt Nam thực hiện các hình thức tái cấp vốn sau: 
Cho vay lại hồ sơ tín dụng 
NHNN tái cấp vốn cho các NHTM đã cho vay đối với khách hàng và được đảm bảo bằng hồ sơ tín dụng mà các NHTM đã cho vay khách hàng trước đó, nghĩa là các NHTM trước đó đã cho vay khách hàng, nay đem hồ sơ đó tới NHNN xin vay, nhưng với điều kiện là hồ sơ tín dụng của những khoản nợ mà các NHTM đã cho vay đang tham gia chu kỳ sản xuất kinh doanh và khách hàng vay nợ có tình trạng tài chính tốt. 
Cho vay bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá 
Các loại giấy tờ có giá được dùng làm đảm bảo là tín phiếu Kho bạc Nhà nước, tín phiếu NHNN chưa đến hạn thanh toán, các loại ngoại tệ mạnh. Thời gian cho vay của NHNN nhỏ hơn hoặc bằng thời gian thanh toán còn lại của giấy tờ có giá nhưng không vượt quá 6 tháng. 
Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá 
Chiết khấu là việc NHNN mua lại các giấy tờ có giá ngắn hạn còn thời hạn thanh toán và thuộc sở hữu của các ngân hàng. Còn tái chiết khấu là việc NHNN mua các giấy tờ có giá ngắn hạn còn thời hạn thanh toán và thuộc sở hữu thanh toán của các ngân hàng. 
Các giấy tờ có giá được NHNN chấp thuận chiết khấu và tái chiết khấu là tín phiếu Kho bạc, tín phiếu NHNN, và các loại giấy tờ có giá khác được Thống đốc NHNN quy định trong từng thời kỳ. Các loại giấy tờ có giá trên phải được phát hành bằng VND và có thể chuyển nhượng được; thời hạn thanh toán còn lại của các giấy tờ trên nhỏ hơn hoặc bằng 90 ngày (trong trường hợp chiết khấu toàn bộ thời gian thanh toán còn lại của giấy tờ có giá), còn trong trường hợp chiết khấu có kỳ hạn thì thời gian thanh toán còn lại phải dài hơn thời gian chiết khấu. 
Tuy nhiên, trong trường hợp có nhu cầu về vốn, các ngân hàng thương mại thường tìm kiếm nguồn khác trước khi tìm đến NHNN vì NHNN thường đưa ra các quy định chặt chẽ. Vay NHNN thường là giải pháp cuối cùng khi các ngân hàng thương mại không còn nguồn vay mượn nào khác. 

3.2. Vay các tổ chức tín dụng khác 

Các ngân hàng thương mại trong trường hợp cần thiết để đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể vay vốn ở các TCTD khác thông qua thị trường liên ngân hàng. Giữa các TCTD có thể cho vay lẫn nhau theo nguyên tắc: 
Các ngân hàng phải hoạt động hợp pháp 
Thực hiện việc cho vay và đi vay theo hợp đồng tín dụng 
Vốn vay phải được bảo đảm bằng thế chấp, cầm cố hay xin bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước 
Khoản vay này chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. 

3.3. Phát hành giấy tờ có giá 

Nếu như việc vay NHTW có thể gặp khó khăn do vấp phải những quy định, các NHTM có thể chủ động hơn bằng các hình thức phát hành các loại giấy nợ ra công chúng nhằm huy động được lượng vốn theo nhu cầu của mình. Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành giấy nợ thường được thực hiện theo hai phương thức: phát hành theo mệnh giá và phát hành dưới hình thức chiết khấu.
Phát hành theo mệnh giá 
Người mua giấy nợ sẽ thanh toán tiền theo mệnh giá đã được ghi trên giấy nợ. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng vốn gốc (mệnh giá) và phần lãi được hưởng. 
Phát hành dưới hình thức chiết khấu
Người mua giấy nợ sẽ được thanh toán tiền bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng theo đúng mệnh giá. 
Các loại giấy nợ mà ngân hàng thương mại có thể phát hành để vay tiền trên thị trường tiền tệ: 
Chứng chỉ tiền gửi (Certificate của Deposit) 
Chứng chỉ tiền gửi mà ngân hàng thương mại phát hành ra là một giấy nợ, là một phiếu vay tiền của thi trường, của dân chúng. Khi cầm nó trong tay là sở hữu được một quyền thanh toán, được chi tiêu số tiền đến mức tối đa như giá trị bề mặt của chứng chỉ. Trên chứng chỉ có ghi rõ thời hạn sẽ trả lại tiền mặt và lãi suất người cho vay (người mua chứng chỉ) được hưởng. Đến ngày đáo hạn, ta đem chứng chỉ nộp cho ngân hàng đã phát hành để nhận lại vốn (theo giá trị bề mặt) và tiền lời. 
Chứng chỉ này trở thành loại đầu tư ngắn hạn hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh và hộ gia đình, vì nó được sử dụng và chấp nhận không khác gì séc hay tiền mặt, hơn nữa chứng chỉ tiền gửi lại còn có lãi suất nên khách hàng được hưởng thêm phần lãi. Thay cho việc giữ tiền mặt hay séc không sinh ra đồng lãi nào, những nhà kinh doanh và hộ gia đình dùng tiền đi mua loại chứng chỉ tiền gửi này, bởi chúng vừa có khả năng thanh toán như tiền vừa sinh lợi. 
Phát hành chứng chỉ tiền gửi khả nhượng (Negotiable Certificate của Deposit) 
Loại chứng chỉ này có mệnh giá rất cao, đặc điểm nổi bật của loại chứng chỉ này là người mua chứng chỉ có thể chuyển nhượng cho người khác. 
Phát hành kỳ phiếu ngắn hạn 
Việc huy động kỳ phiếu được áp dụng theo hai phương thức sau: phát hành theo mệnh giá và phát hành dưới hình thức chiết khấu.

3.4. Vốn nhận ủy thác tài trợ của các tổ chức tài chính quốc tế khác

Đây là nghiệp vụ phổ biến ở các nước đang phát triển thông qua các khoản tài trợ giữa các Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế chuyển qua NHTW và Bộ tài chính. Sau khi cân đối ngân sách thì giao cho các ngân hàng thương mại cho vay các dự án lớn. NHTM cho vay trung dài hạn thuộc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi trường,… Nguồn vốn này chỉ được sử dụng để thực hiện những chương trình và dự án có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh doanh.