Dowload luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng miễn phí

Bạn cần tham khảo một vài mẫu luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng miễn phí? Bạn chưa biết bắt đầu bài luận văn thạc sĩ của mình như thế nào? Hãy xem ngay mẫu luận văn mà luanvantaichinh.net chia sẻ trong bài viết này.
luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng
Đề tài: Huy động vốn khách hàng cá nhân tại ngân hàng…

1. Ngân hàng thương mại và các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 

1.1. Khái niệm và đặc điểm của về Ngân hàng thương mại 

1.1.1. Khái niệm 
Theo Luật các Tổ chức Tín dụng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Luật số 47/2010/QH12 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 tại Điều 4 Khoản 2, Khoản 3 đã nêu rõ: 
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm Ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. 
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” 
1.1.2. Đặc điểm của Ngân hàng thương mại 
NHTM có những đặc điểm như sau:
NH chủ yếu kinh doanh bằng vốn của người khác chứ không phải chủ yếu bằng vốn chủ sở hữu. 
Vốn bằng tiền vừa là phương tiện, vừa là đối tượng trong quá trình kinh doanh. 
Hoạt động kinh doanh của NH có liên quan đến nhiều đối tượng KH khác nhau và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau. 
Kinh doanh NH chịu nhiều rủi ro cả về sự đa dạng cũng như mức độ.

1.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại 

1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng 
Hoạt động chính của NHTM là đi vay để cho vay. Điều này chứng tỏ rằng một trong những chức năng quan trọng của NHTM là làm trung gian tín dụng. Tức là một mặt NH sẽ huy động các khoản tiền nhàn rỗi ở mọi chủ thể trong xã hội từ các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình, các cá nhân…Mặt khác NH sẽ dùng nguồn vốn đã huy động được này để cho vay lại đối với các chủ thể có nhu cầu bổ sung vốn. Theo cách thức đó, NHTM sẽ là cầu nối giữa các chủ thể dư thừa vốn tạm thời và những chủ thể thiếu vốn tạm thời có nhu cầu cần vay vốn, qua đó sẽ tạo ích lợi cho cả ba bên: người gửi tiền, NH và người đi vay. NH sẽ kiếm được lợi nhuận cho mình từ chênh lệch lãi suất đi vay và lãi suất cho vay. Lợi nhuận này chính là cơ sở, là điều kiện để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH.
luận văn thạc sĩ tài chính
Thông qua chức năng tín dụng, ngân hàng thương mại góp phần tạo lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia và lợi ích chung của nền kinh tế.
Đối với người gửi tiền: họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa, ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp dịch vụ thanh toán tiện lợi. 
Đối với người đi vay: họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chịu nhiều chi phí.
Đối với ngân hàng thương mại: họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. 
Đối với nền kinh tế: chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. 

1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán 
Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của khách hàng thu tiền bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ở đây, NHTM đóng vai trò là người ‘thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và các cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ. 
NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài khoản để theo dõi các khoản thu, chi. Đó chính là tiền đề khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng, đặt ngân hàng vào vị trí làm trung gian thanh toán. Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro trong vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn đặc biệt là những khách hàng ở xa, điều này đã tạo nên nhu cầu khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng. 
1.2.3. Chức năng tạo “bút tệ” hay tiền ghi sổ 
Bút tệ là loại tiền phi vật chất, chỉ là những con số trên tài khoản ở NH, được tạo thành thông qua hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM. Loại tiền này có thể chuyển đổi dễ dàng sang tiền mặt, có những chức năng giống tiền mặt và còn có một số ưu điểm khác là an toàn, dễ vận chuyển, bảo quản. 
Quá trình tạo bút tệ của NHTM được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống NH, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung ương (NHTW) của mỗi nước. Đó là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một NH đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng thanh toán qua nhiều NH. NHTM tạo được bút tệ xuất phát từ NHTW. Nếu không có sự ràng buộc nào thì khả năng tạo bút tệ là vô hạn. Tuy nhiên, dưới sự kiểm soát của NHTW, NHTM chỉ tạo bút tệ trong giới hạn nhất định. 
1.2.4. Ngân hàng thương mại làm trung gian cho việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia 
Hệ thống NHTM mặc dù mang tính độc lập nhưng nó luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của NHTW về mọi mặt. Đặc biệt, NHTM phải luôn tuân theo các quyết định của NHTW về việc thực hiện chính sách tiền tệ để ổn định giá trị đồng tiền, làm cho lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế phải phù hợp với nhu cầu của xã hội. Để làm được điều này, việc thu hút vốn trong nước cũng như nước ngoài thông qua các NHTM phải được sử dụng đúng mục đích, yêu cầu của nền kinh tế. Tín dụng phát ra từ các NHTM phải mang lại hiệu quả trên cơ sở cho vay mở rộng sản xuất, phát triển các ngành nghề, tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, góp phần thực hiện các mục tiêu và chính sách xã hội của đất nước.

1.3. Vai trò của Ngân hàng thương mại 

NHTM giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. 
NHTM góp phần phân bổ hợp lý các nguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điều kiện phát triển cân đối nền kinh tế. 
NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW 
NHTM là cầu nối phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.

1.4. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại 

NH là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp. Thành công của NH phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả. Các hoạt động chủ yếu của NHTM gồm: 
1.4.1. Hoạt động huy động vốn 
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM và có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của NH. Các NHTM huy động vốn dưới các hình thức: 
Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng (TCTD) khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng. 
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá trị khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước khi được Thống đốc ngân hàng Nhà nước (NHNN) chấp thuận.
Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam và của TCTD nước ngoài. 
Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn. 
Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. 
1.4.2. Hoạt động tín dụng 
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản của NH, nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản có của các NHTM. Do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của NH. 
NHTM cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Cụ thể: 
– Cho vay:
NHTM cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình vay vốn dưới các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho vay theo quyết định của Chính phủ trong trường hợp cần thiết. 
Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác: 
NH thực hiện nghĩa vụ chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân. 
NH thực hiện nghĩa vụ tái chiết khấu thương phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với TCTD khác. 
Bảo lãnh:
NH thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh NH khác cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của NHNN.
NH thực hiện bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh NH khác mà người nhận bảo lãnh là các cá nhân, tổ chức nước ngoài. 
NH có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện đúng cam kết của mình với NH, có đảm bảo cho việc bảo lãnh của NH, cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin và tài liệu liên quan đến việc bảo lãnh, kiểm soát mọi hoạt động liên quan đến nghĩa vụ bảo lãnh, từ chối bảo lãnh đối với KH không có uy tín. 
Cho thuê tài chính: NH thực hiện nghiệp vụ cho thuê tài chính qua công ty cho thuê tài chính thuộc NH chủ quản. Công ty cho thuê tài chính tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. 

1.4.3. Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
NH thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: 
Cung ứng các phương tiện thanh toán. 
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho KH.
Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ. 
Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN. 
Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho KH. 
NH tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên NH trong nước, tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được
1.4.4. Các hoạt động khác
Dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các TCTD khác theo quy định của pháp luật.
Góp vốn với TCTD nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TCTD nước ngoài tại Việt Nam. 
Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN. 
Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi được NHNN cho phép. 
Được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động NH, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác và đại lý. 
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật. 
Cung ứng các dịch vụ: 
Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho KH hoặc qua các công ty trực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật. 
Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của luật pháp.
Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh doanh có liên quan tới hoạt động NH theo quy định của pháp luật.

2. Tổng quan về nguồn gốc của ngân hàng thương mại 

2.1. Khái niệm 

Vốn được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau, nên có nhiều hình thức vốn khác nhau. Trước hết vốn được xem là toàn bộ những yếu tố được sử dụng vào việc sản xuất ra của cải. Vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Có các hình thái về vốn: vốn hiện vật, vốn bằng tiền, vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn con người, vốn kỹ thuật hay vốn vật chất là toàn bộ tài sản sản xuất. 
Về mặt tài chính, vốn của doanh nghiệp là toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt và vật được sử dụng trong kinh doanh, giá trị của những tài sản này bất biến nhờ khấu hao. 

2.2. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại 

2.2.1. Vốn tự có
Vốn pháp định – vốn điều lệ 
Vốn pháp định: Là vốn tối thiểu phải có để thành lập ngân hàng do pháp luật quy định. 
Vốn điều lệ: Là phần vốn riêng ban đầu khi mới thành lập, có thể do ngân sách cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, hoặc do các cổ đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần. Vốn điều lệ của ngân hàng ghi trong giấy phép hoạt động và điều lệ ngân hàng (mức vốn này lớn hơn mức tối thiểu do Nhà nước quy định).
Nguồn vốn này ngân hàng dùng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, mở các tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng chi trả sau này. 
Vốn điều lệ có thể được tăng lên một cách đều đặn không giới hạn trong quá trình hoạt động và khi đó ngân hàng có thể được sử dụng nó để xây dựng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán.
Các quỹ dự trữ
Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng và được trích trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng. 
Quỹ dự trữ: là loại vốn được trích từ lợi nhuận hàng năm để bổ sung vốn điều lệ. Theo luật ngân hàng Việt Nam, hàng năm ngân hàng phải trích 5% trên lợi nhuận ròng để lập quỹ này, còn mức tối đa do nhà nước quy định. 
Quỹ dự trữ đặc biệt: là loại vốn được trích từ lợi nhuận, được sử dụng để bù đắp các rủi ro trong quá trình hoạt động. 
Mục đích của việc thành lập các quỹ trên nhằm bảo toàn và không ngừng nâng cao khả năng về vốn tự có của ngân hàng. 
Ngoài ra vốn tự có của ngân hàng còn bao gồm phần lợi nhuận chưa chia và các quỹ đặc biệt khác chưa sử dụng như quỹ phát triển, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…. 
2.2.2. Vốn huy động 
Vốn huy động là phần tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế mà ngân hàng thông qua những hình thức huy động của mình được quyền sử dụng nó với trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi. 
Nguồn vốn này không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng ngân hàng được quyền sử dụng đối với những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Đây là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên trong đó một bộ phận đáng kể trong nguồn vốn hoạt động luôn luôn biến động, do vậy khi sử dụng ngân hàng phải dành một khoản dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng. 
2.2.3. Vốn đi vay
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại.
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể thiếu hụt nguồn vốn, mất khả năng thanh toán cho khách hàng thì ngân hàng có thể tận dụng nguồn tín dụng hỗ trợ từ Ngân hàng Trung ương. Ngoài ra trong điều kiện được phép mở các chi nhánh ở nước ngoài, ngân hàng còn có điều kiện động viên những nguồn vốn ngoại tệ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Hơn nữa, nếu ngân hàng có mối quan hệ quốc tế rộng lớn còn có thể tranh thủ những khoản vốn tiếp nhận từ các Tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế. 
Nguồn vốn đi vay bao gồm: 
Vay của các Tổ chức tín dụng khác 
Nguồn vốn này được hình thành bởi mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh. 
Vay Ngân hàng trung ương 
Ngân hàng có thể tạo vốn khi gặp khó khăn chủ yếu là trong thanh toán tại Ngân hàng trung ương thông qua tái cấp vốn mà chủ yếu là tái chiết khấu trong các điều kiện, yêu cầu nhất định. Ngân hàng Trung ương thực hiện tái cấp vốn để điều tiết lưu thông tiền tệ theo tín hiệu thị trường và thực thi chính sách tiền tệ của mình, để đáp ứng cho hoạt động của mình, ngoài vốn đi vay trong nước các ngân hàng thương mại còn có thể vay các tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài. 
2.2.4. Các nguồn vốn khác 
Vốn trong thanh toán:
Trong quá trình thanh toán, các khách hàng có thể mở các tài khoản lưu ký khi vận dụng các hình thức thanh toán như tài khoản tiền gửi, séc bảo chi, thư tín dụng… và trong thời gian chưa đến hạn thanh toán thì ngân hàng có thể vận động các nguồn này để trở thành nguồn vốn kinh doanh.
Nguồn vốn phát sinh từ nghiệp vụ đại lý 
Ngân hàng chuyên thu hay chuyên chi hộ khách hàng, hoặc ngân hàng làm đại lý cho tổ chức tín dụng khác nhận vốn để chuyển vốn đó cho một dự án đầu tư nào đó. Việc phát triển có thể theo tiến độ công việc, bởi vậy có thể tạo nên một tài khoản và ngân hàng có thể sử dụng tạm thời tài khoản ấy vào kinh doanh. 
Phát hành chứng từ có giá 
Là dạng huy động ngắn hạn hoặc dài hạn nhưng hình thức này không mang tính thường xuyên và liên tục nhưng nguồn vốn này tương đối ổn định. Các giấy tờ có giá bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu. 

3. Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động huy động vốn của ngân hàng thương mại

3.1. Khái niệm, sự cần thiết và mục đích của hoạt động huy động vốn 

3.1.1. Khái niệm 
Huy động vốn là quá trình thu hút, động viên và quản lý những phương tiện tiền tệ trong xã hội nhằm cho vay và thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh khác nhau của ngân hàng, đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết và đáp ứng các nhu cầu chi trả khác nhau của ngân hàng. 
3.1.2. Sự cần thiết và mục đích của hoạt động huy động vốn 
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vì nó là nguồn chủ yếu được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế. Do vậy có thể nói hoạt động huy động vốn góp phần giải quyết đầu vào của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng luôn giữ lượng tiền mặt tại quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên của ngân hàng. Tùy theo quy mô hoạt động của ngân hàng mà ngân hàng phải duy trì mức tồn quỹ là bao nhiêu để đảm bảo khả năng thanh toán hàng ngày của ngân hàng. Ngân hàng còn phải trích một khoản vốn cho lượng tiền dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước. 
Huy động vốn để thu hút nguồn vốn từ nơi thừa về nơi thiếu, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi. Trên cơ sở thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để mục tiêu đầu tư ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, là để giảm lượng tiền dư thừa trong lưu thông đồng thời góp phần tăng vòng quay của đồng vốn. 
Sử dụng vốn để cho vay, đây là số vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số sử dụng vốn của ngân hàng. Vì vậy ngân hàng phải xem xét từng đối tượng khách hàng để cho vay sử dụng đúng mục đích, sử dụng có hiệu quả, và phải đảm bảo khả năng thu hồi vốn cũng như trả lãi đúng hạn để duy trì hoạt động của ngân hàng. 
Sử dụng vốn để kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc, đá quý khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Ngoài việc thu lợi nhuận từ khoản chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn thì ngân hàng còn cần vốn để đầu tư các lĩnh vực khác để tăng thêm lợi nhuận. Ngoài ra ngân hàng còn tham gia vào thị trường chứng khoán, thị trường hối đoái và can thiệp trên thị trường tiền tệ nhằm mục đích tăng thêm lợi nhuận. 
Đối với khách hàng, việc huy động vốn của ngân hàng cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác hoạt động huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất giữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. 
Đối với xã hội, hoạt động huy động vốn góp phần quản lý được lượng tiền lưu thông trong xã hội; định hướng đầu tư cho các ngành kinh tế, cho từng vùng; điều hòa vốn giữa những khách hàng có vốn và những khách hàng thiếu vốn. Ngoài ra hoạt động huy động vốn còn góp phần tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. 

3.2. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 

3.2.1. Khái niệm về tiền gửi khách hàng cá nhân 
Nguồn vốn trong dân được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ các nguồn như thu nhập từ tiền lương, tiền công, các khoản thừa kế, quà tặng, quà biếu từ nước ngoài… Với những nguồn thu nhập này, sau khi chi dùng cho các nhu cầu, chỉ một phần là những khoản tiền nhàn rỗi, và một phần của những khoản tiền này được gửi vào các NHTM dưới hình thức tiết kiệm để hưởng lãi. 
Nói cách khác, tiền gửi cá nhân là những khoản tiền trích trong thu nhập, tiền nhàn rỗi của gia đình cá nhân được gửi vào ngân hàng với mục đích an toàn và hưởng lãi, chờ đợi một cơ hội chi tiêu trong tương lai. Đôi khi họ còn gửi vào với mục đích thanh toán nhưng bản chất của lại tiền này là tiền để dành cho cất trữ nên nhìn chung tiền gửi cá nhân có tính ổn định cao. 
3.2.2. Các nguyên tắc huy động vốn khách hàng cá nhân
Việc huy động vốn phải dựa trên nhu cầu cho vay 
Ngân hàng phải xác định nhu cầu cho vay để huy động nguồn vốn hợp lý, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa hay thiếu hụt nguồn vốn, sử dụng nguồn vốn huy động không có hiệu quả ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng phải có trách nhiệm trả đầy đủ đúng hạn cả vốn lẫn lãi cho khách hàng. 
Để đảm bảo khả năng chi trả của Ngân hàng thì Ngân hàng phải nộp một quỹ dự trữ tại Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng phải có một khoản tiền mặt tối thiểu để đề phòng nhiều khách hàng đến rút tiền một cách bất ngờ. Nếu Ngân hàng không có đủ tiền để chi trả thì khách hàng sẽ nghi ngờ về hoạt động của Ngân hàng và sẽ mất lòng tin đối với Ngân hàng, khi đó có thể sẽ xảy ra khủng hoảng và các Ngân hàng sẽ bị phá sản. 
Ngân hàng phải bảo đảm số dư tiền gửi của khách hàng và phải đáp ứng kịp thời những thông tin cho khách hàng về số dư tài khoản, từ chối việc điều tra, trích chuyển tiền gửi mà không có sự đồng ý của khách hàng. Nếu không sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng và uy tín của ngân hàng.
NH phải thông báo công khai mức lãi suất tiền gửi, không được che giấu.

4. Dowload luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng 

Bạn có thể tham khảo toàn bộ mẫu luận văn tài chính ngân hàng tại đây