Hệ số thanh toán nhanh và chỉ số phân tích đầu tư chứng khoán

Hệ số thanh toán nhanh là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền mặt, chứng khoán ngắn hạn và các khoản phải thu.

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh

1. Khái niệm về khả năng thanh toán

Khả năng thanh toán là khả năng bảo đảm trả được các khoản nợ đến hạn bất cứ lúc nào. Khả năng thanh toán là kết quả của sự cân bằng giữa các luồng thu và chi hay giữa nguồn vốn kinh tế (capital) và nguồn lực sẵn có (resource). Investopedia định nghĩa khả năng thanh toán “là khả năng đáp ứng các chi tiêu cố định trong dài hạn và có đủ lượng tiền cần thiết để mở rộng và phát triển”. Với mỗi đối tượng cụ thể, nó lại có một cách định nghĩa khác nhau:

Đối với doanh nghiệp: khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn. 

Trong kinh tế thị trường: khả năng thanh toán chỉ khả năng của những người tiêu thụ có đủ sức mua bằng tiền để mua hàng hóa trên thị trường. 

Duy trì khả năng thanh toán là rất quan trọng đối với mọi tổ chức, nghĩa là nghĩa vụ trả các khoản nợ hiện hành trong kinh doanh, nghĩa vụ thanh toán bao gồm chi phí hoạt động và chi phí tài chính, là nợ ngắn hạn nhưng trở thành dài hạn. Chỉ số khả năng thanh toán được sử dụng để quản lý khả năng thanh toán trong mọi tổ chức theo hình thức chỉ số khả năng thanh toán hiện hành, chỉ số khả năng thanh toán nhanh và chỉ số khả năng thanh toán bằng tiền. Vì vậy, doanh nghiệp xem xét có đủ tài sản có tính thanh khoản (tiền mặt, tiền gửi Ngân hàng) để đáp ứng tiến độ thanh toán bằng cách so sánh tiền mặt và các khoản tương đương tiền với nghĩa vụ thanh toán. Chỉ số khả năng thanh toán làm việc với tiền mặt và tài sản có thể chuyển đổi thành tiền (cùng được gọi là tài sản “ngắn hạn”) của một doanh nghiệp ở một bên và các nghĩa vụ thanh toán ngay lập tức (nợ ngắn hạn) ở phía bên kia. Tài sản có thể chuyển đổi thành tiền chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, hàng tồn kho của thành phẩm và nguyên liệu thô. Nghĩa vụ thanh toán bao gồm phí cho nhà cung cấp, chi phí vận hành và chi phí tài chính phải được thanh toán ngay và trở thành trả nhiều lần dưới hình thức nợ dài hạn.

Chỉ số khả năng thanh toán đo lường khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của một doanh nghiệp bằng cách so sánh tiền mặt và các khoản tương đương tiền với nghĩa vụ thanh toán. Nếu tiền mặt và các khoản tương đương tiền ko đủ đảm bảo nghĩa vụ thanh toán, nó chỉ ra rằng các doanh nghiệp có thể phải đối mặt với khó khăn trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của họ. Điều này có thể, lần lượt, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và lợi nhuận của công ty.

Chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS, 2006) chỉ ra thực tế là khả năng thanh toán đề cập đến tiền mặt có sẵn trong tương lai gần, sau khi thực hiện các nghĩa vụ tài chính tương ứng với khoảng thời gian đó. Rủi ro thanh khoản bao gồm xác suất mà tổ chức không thể thực hiện thanh toán các khoản nợ của mình cho các chủ nợ, như một kết quả của những thay đổi trong tỷ lệ các khoản tín dụng dài hạn và tín dụng ngắn hạn và sự không tương quan với cơ cấu nợ của tổ chức (Stoica, 2000 ).

Morris và Shin (2010) định nghĩa khái niệm khả năng thanh toán như “tiền mặt có thể thực  

hiện trên bảng cân đối để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn”. 

Theo Shim và Siegel (2000, trang 46-47) thanh khoản kế toán là khả năng công ty hoàn trả nợ ngắn hạn khi đáo hạn (trong vòng một năm). Duy trì tốt khả năng thanh toán là mục tiêu chủ yếu của công ty, đó là một điều kiện mà nếu không có nó không thể được đạt tính liên tục của một doanh nghiệp.

Khả năng thanh toán và thanh khoản là hai khái niệm có liên quan chặt chẽ và phản ánh trên hành động của chính sách vốn lưu động của công ty. Một mức độ thanh khoản thấp có thể dẫn đến tăng chi phí tài chính và kết quả là mất khả năng thanh toán với nghĩa vụ của mình (Maness &Zietlow, năm 2005, trang 25)

Theo nhiều nhà nghiên cứu ở trường đại học, khả năng thanh toán với mỗi doanh nghiệp dựa trên tình hình bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đó. Để đánh giá trạng thái thanh khoản, điều đặc biệt quan trọng là tổ chức bằng cách phân loại tài sản có và nợ phải trả (Basno & Dardac, 2004). Thông thường các công ty mong muốn giữ cho khả năng thanh toán cao hơn 1.00. Điều đó sẽ chứng minh khả năng các công ty để trả các khoản nợ ngắn hạn đã cam kết, với việc thanh lý tài sản ngắn hạn. Bất kỳ tỷ lệ dưới 1.0 có thể có nghĩa rằng các doanh nghiệp không thể được tạo ra tiền mặt đủ để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn (Morrel, 2007, trang 62). Tuy nhiên như Matarazzo (2003, trang 54) đã nhấn mạnh, “nếu một nhà phân tích quan sát bảng cân đối của công ty và đối mặt với một tỷ lệ thanh khoản thấp hơn 1.00 thì ông không, về nguyên tắc, coi nó là không trả được nợ đúng hạn”. Tỷ lệ thanh khoản sẽ, theo tác giả, thích hợp nhất được hiểu là một chỉ số về mức độ độc lập của công ty đối với các chủ nợ và khả năng phải đối mặt với khủng hoảng và khó khăn đột xuất.

Theo Matarazzo (2003, trang 55), hệ số thanh toán nhanh không phải là luôn luôn là một dấu hiệu của sự quản lý yếu kém về tài chính. Nếu tỷ số khả năng thanh toán hiện thời cao trong khi nợ phải trả ngắn hạn thấp, nó có thể là một dấu hiệu của một chính sách khôn ngoan, tránh chi phí tài chính của khoản vay ngân hàng, hoặc thậm chí là một chiến lược để có chiết khấu tốt với các nhà cung cấp cho các khoản phải trả. Nó cũng có thể là trường hợp hàng tồn kho cao là một phần của đặc điểm hoạt động của công ty. Ví dụ, các công ty cần phải duy trì một mức giá trị cổ phiếu đáng kể, đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, như trường hợp của các công ty thương mại. Một ví  dụ khác là các công ty mà cổ phiếu có giá trị cao, như các đại lý điện tử, xe,…(Pimentel và cộng sự , 2005, trang 87).

Sự quan tâm của các chủ doanh nghiệp và nhà quản lý trên toàn thế giới là để đưa ra một chiến lược quản lý để hoạt động hàng ngày của họ đáp ứng các nghĩa vụ theo đúng thời hạn và tăng lợi nhuận và sự giàu có của cổ đông. Quản lý khả năng thanh toán, trong nhiều trường hợp, được xem xét là từ quan điểm của quản lý vốn lưu động vì hầu hết các chỉ số được sử dụng để đo lường khả năng thanh toán của công ty là một chức năng của các thành phần vốn lưu động.

Quản lý hệ sô thanh toán nhanh rất quan trọng, nó ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty trong kinh doanh nên không thể không quan tâm. Một phần quan trọng trong việc quản lý vốn lưu động là yêu cầu trong việc duy trì khả năng thanh toán trong hoạt động hằng ngày để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên, liên tục. Một công ty phải đảm bảo rằng khả năng thanh toán đủ để có thể đáp ứng nghĩa vụ ngắn hạn (không quá dư thừa hoặc thiếu hụt). Nghiên cứu về khả năng thanh toán có tầm quan trọng lớn và phải thực hiện phân tích cả các yếu tố bên trong và bên ngoài do mối quan hệ chặt chẽ của khả năng thanh toán với hoạt động hàng ngày của một doanh nghiệp. Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng, yêu cầu thanh khoản của một công ty phụ thuộc vào tính chất đặc thù của công ty và không có quy định cụ thể về việc xác định mức tối ưu của thanh khoản mà một công ty có thể duy trì để đảm bảo tác động tích cực đến lợi nhuận của nó.

Thanh khoản và quản lý thanh khoản ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và lợi nhuận của một công ty. Điều này là do việc dư thừa hoặc thiếu hụt lượng tài sản có tính thanh khoản cao để đáp ứng khả năng thanh toán có thể gây gián đoạn các hoạt động hàng ngày của tổ chức. Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và KNSL đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Kỹ thuật WCM (quản lý vốn lưu động) xuất hiện với triết lý của việc sử dụng nguồn vốn dài hạn nên đầu tư toàn bộ vào các tài sản ngắn hạn và nguồn vốn ngắn hạn chỉ được sử dụng cho các tình huống khẩn cấp. Tính năng riêng biệt của WCM thận trọng là tăng khả năng thanh toán và ít rủi ro hơn nhưng quan tâm nhiều hơn tới việc phải đảm bảo được nguồn vốn cho các tài sản ngắn hạn thời vụ (không thường xuyên). Công ty lớn hơn thường tập trung vào doanh thu nhiều hơn trên cơ sở lượng tiền mặt ít hơn dẫn đến có nhiều vấn đề về dòng tiền hơn và tính thời vụ trong khi các công ty nhỏ hơn tập trung chủ yếu là quản lý hàng tồn kho và các chính sách quản lý tín dụng với lợi nhuận thấp.

Như vậy, tóm lại khả năng thanh toán của doanh nghiệp là năng lực về tài chính mà doanh nghiệp có được để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ đối với doanh nghiệp vay hoặc nợ. Khả năng thanh toán là một trong những công cụ mạnh được sử dụng nhằm đánh giá các khả năng của doanh nghiệp để đáp ứng được những nhiệm vụ tài chính dài hạn hay ngắn hạn của doanh nghiệp. Về cơ bản, quá trình này gọi là xác định tổng thu nhập được tạo ra bởi doanh nghiệp, miễn các loại thuế nợ và bất kỳ loại chi phí khấu hao mà không dùng tiền mặt. Con số này được so sánh với tổng số nhiệm vụ dài hạn mà doanh nghiệp hiện tại đang nắm giữ. Các nhà đầu tư và người cho vay thường quan tâm và để ý đặc biệt đến các tỷ lệ khả năng thanh toán như một phương tiện đánh giá xếp hạng tín dụng và đánh giá mức độ rủi ro hiện tại của một doanh nghiệp.

2. Các chỉ số thanh khoản (Liquidity Ratios)

2.1. Chỉ số khả năng thanh toán hiện hành (Curent Ratio) 

CR = Tổng tài sản lưu động (TCA) / Tổng số nợ ngắn hạn (TCL)

2.2. Chỉ số vốn lưu động ròng (Net Working Capital)

NWC = Tổng tài sản lưu động (TCA) – Tổng nợ ngắn hạn (TCL)

2.3. Hệ số thanh toán nhanh (Acid Test Ratio)

AT = (Tổng tài sản lưu động – hàng tồn kho) / Tổng số nợ ngắn hạn

2.4. Chỉ số nguồn tiền mặt (Cash flow) 

CF = Thu nhập ròng (sau thuế) + Khấu hao TSCĐ 

3. Các chỉ số huy động vốn của doanh nghiệp (Capitalization ratios)

3.1. Tỷ số nợ (Debt. Ratio)

DR = Tổng nợ (TD) / Tổng số vốn (E)

3.2. Chỉ số trái phiếu (Bond Ratio) 

BR = Tổng mệnh giá của TF đang lưu hành / Tổng vốn dài hạn

3.3. Chỉ số cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock Ratio) 

PSR = Tổng mệnh giá cổ phiếu ưu đãi / Tổng số vốn dài hạn

3.4. Chỉ số cổ phiếu thường (Common Stock Ratio)

CRS = (Tổng mệnh giá CF thường + Thặng dư vốn + thu nhập giữ lại) / Tổng số vốn dài hạn

3.5. Thị giá vốn doanh nghiệp (Market capitalization) 

Thị giá vốn DN = Tổng số CF đang lưu hành x Thị giá CF 

Vốn điều lệ đã góp = Tổng số CF đang lưu hành x Mệnh giá CF 

4. Các chỉ số đảm bảo chứng khoán (Coverage Ratios)

4.1 Chỉ số đảm bảo trái tức (Bond interest coverage)

BIC = Tổng thu nhập trước thuế và trái tức / Tổng trái tức hàng năm

4.2. Chỉ số đảm bảo cổ tức ưu đãi (Preferred divident coverage) 

PDC = Thu nhập ròng / Tổng cổ tức ưu đãi 

4.3. Giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu (Net asset value per Share – NAV) 

NAV = Tổng tài sản ròng/ Tổng cổ phiếu đã phát hành 

NAV trên cơ sở mệnh giá của cổ phiếu : 

NAV = Tổng tài sản ròng / (Tổng số cổ phiếu x Mệnh giá)

5. Các chỉ số định giá thu nhập Chứng khoán (Evaluation Earnings)

5.1. Thu nhập mỗi cổ phiếu (Earnings per Shares – EPS) 

EPS = (Thu nhập ròng – Tổng cổ tức ưu đãi) / Tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành

5.2. Chỉ số giá và thu nhập của cổ phiếu (Price Earnings Ratio) 

PER (P/E) = Thị giá cổ phiếu thường / EPS

6. Hệ số thanh toán ngắn hạn

– Vốn lưu động ròng 

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn (TSLĐ) – Nợ ngắn hạn 

Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn, các nhà phân tích quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng. Chỉ tiêu này phản ánh phần tài sản lưu động được tài trợ từ nguồn vốn cơ bản, lâu dài mà không phải chi trả trong thời gian ngắn, vốn lưu động ròng càng lớn phản ánh khả năng chi trả đối với các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả càng cao. Đây cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá cân bằng tài chính của doanh nghiệp. Vốn lưu động ròng được xác định là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và tổng nợ ngắn hạn, hoặc phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên ổn định với TSCĐ ròng. Tài sản lưu động nên có các thuộc tính sau: đa dạng, thời gian đáo hạn còn lại thích hợp cho nhu cầu lưu chuyển tiền tệ của mỗi tổ chức; dễ dàng bán ra thị trường hoặc chuyển đổi thành tiền mặt và rủi ro tín dụng tối thiểu (2005 Ngân hàng Jamaica Xuất bản: Tháng Hai 1996). Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và khả năng nắm bắt thời cơ lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng.

– Hệ số thanh toán hiện hành:

Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản lưu động/Nợ ngắn hạn

TSLĐ thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho); còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác…Tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định – tới 1 năm. Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo KNTT ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó. Nó thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động đối với nợ ngắn hạn mà không cần tới một khoản vay mượn thêm.

Để đánh giá tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp sau khi tính toán, ta so sánh với tỷ số thanh toán bình quân ngành, tỷ số thanh toán năm trước và 1.

KNTT hiện hành > 1: giá trị tài sản ngắn hạn của công ty lớn hơn giá trị nợ ngắn hạn, hay nói cách khác là tài sản lưu động của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Điều này cho thấy, tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp tốt. Và ngược lại, nếu KNTT ngắn hạn < 1 thì doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu con số này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào TSNH so với nhu cầu. Thường thì phần vượt quá sẽ không tính thêm lợi nhuận, nên việc đầu tư đó sẽ kém hiệu quả. Do đó, doanh nghiệp cần phải phân bổ vốn hợp lý.

Nếu KNTTHH năm nay < KNTTHH năm trước: điều này cho chúng ta thấy rằng khả năng TTNH năm nay giảm đi so với năm trước. Do đó, để hiểu rõ thêm về điều này ta cần so sánh với tỷ số thanh toán bình quân ngành.

Tỷ số KNTT hiện hành so với tỷ số thanh toán bình quân ngành không quá chênh lệch là tốt.

Hi vọng với bài chia sẻ trên bạn đã trả lời được câu hỏi hệ số thanh toán nhanh là gì cũng như ý nghĩa của nó.


Từ khóa liên quan: chỉ số thanh toán nhanh, công thức tính hệ số thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán tổng quát, tài sản ngắn hạn là gì, tỷ số thanh toán nhanh, tỷ số thanh toán hiện hành