Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

Trong bài viết này, luanvanketoan.com xin chia sẻ một nội dung vô cùng quan trọng đến bạn đọc, đó là hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.

Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

>>> Xem thêm: Các hình thức cho vay của ngân hàng thương mại

1. Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng

Như chúng ta đã biết, đối với các NHTM thì các khoản cho vay dành cho cá nhân và người tiêu dùng thường là những món vay nhỏ lẻ và chứa đựng nhiều rủi ro nên đã có thời kì các NHTM từ chối những khoản cho vay này. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế ngày càng phát triển và sức ép cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong hệ thống ngân hàng đã buộc các nhà ngân hàng phải thay đổi và mở rộng các dịch vụ cung ứng của mình nhằm nâng cao sức cạnh tranh, không những trong hệ thống ngân hàng mà còn cả với các định chế tín dụng khác. Để làm được điều này yêu cầu ngân hàng buộc phải đa dạng hóa các sản phẩm của mình, không chỉ dừng lại ở các sản phẩm truyền thống là huy động vốn, tín dụng, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ… mà còn phát triển các sản phẩm mới như cho vay tiêu dùng, tư vấn, dịch vụ cho thuê két, dịch vụ ngân hàng trọn gói…

Như vậy, có thể thấy rằng tín dụng tiêu dùng ra đời chính từ sự phát triển của nền kinh tế thị trường cộng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong hệ thống ngân hàng. Một lý do khác khiến tín dụng tiêu dùng ra đời và phát triển là việc giải quyết hai mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng với khả năng thanh toán của cá nhân người tiêu dùng và mâu thuẫn giữa sản xuất hàng hóa với tiêu thụ hàng hóa.

Với mâu thuẫn thứ nhất, người tiêu dùng hay còn gọi là người nhận tài trợ, là những người thuộc mọi tầng lớp dân cư, không phân biệt màu da, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn… là những người có công việc và thu nhập ổn định, có nhu cầu mua sắm nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống khi chưa có đủ khả năng thanh toán để thực hiện những mong muốn trên. Thuật ngữ “nhu cầu” ở đây được hiểu theo ba mức độ khác nhau là nhu cầu tự nhiên, mong muốn và yêu cầu.

Trong khi nhu cầu tự nhiên là vô hạn thì nhu cầu có khả năng thanh toán là hữu hạn. Để biến nhu cầu tự nhiên thành nhu cầu có khả năng thanh toán thì phải tính đến tình trạng thu nhập trong tương lai của người tiêu dùng. Trên thực tế, người tiêu dùng không thể có ngay được các khoản thu nhập, các khoản tiền lớn trong hiện tại mà phải qua quá trình tích lũy lâu dài, có thể gần cả đời người. Do đó, thông qua việc cấp tín dụng, ngân hàng đã cho phép khách hàng được sử dụng hàng hóa trước khi có khả năng thanh toán.

Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa việc sản xuất hàng hóa với tiêu thụ hàng hóa của các nhà sản xuất kinh doanh. Những người sản xuất chỉ đạt được hiệu quả trong hoạt động của mình khi họ nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng và đáp ứng tốt nhu cầu này. Các công ty thương mại lớn có thể cho phép các công ty con của mình bán chịu hàng hóa cho khách hàng, chủ yếu là bán trả góp để nâng cao khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, trong trường hợp này, thường thì người tiêu dùng chỉ được thỏa mãn với một số loại hàng hóa nhất định. Khắc phục được nhược điểm đó, các tổ chức tín dụng có thể đáp ứng nhu cầu về nhiều loại hàng hóa khác nhau do các công ty thương mại khác nhau cung cấp thông qua tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho người tiêu dùng.

Cho vay tiêu dùng ra đời đã giúp những người có tiền sử dụng tiền của mình một cách hiệu quả thông qua việc cho vay. Nhưng quan trọng hơn, cho vay tiêu dùng đáp ứng được nhu cầu vượt quá khả năng thanh toán, nâng cao mức sống của người tiêu dùng, đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ cho người bán, giúp quá trình lưu thông hàng hóa từ khâu sản xuất đến tiêu dùng được thông suốt và hiệu quả.

Ngày nay, lĩnh vực cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều công ty chuyên môn hoá đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đang mở rộng dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ. Lĩnh vực này cũng không còn chỉ do các ngân hàng và công ty tài chính thực hiện nữa mà các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, ngân hàng tiết kiệm bưu điện…vv cùng tham gia cung cấp dịch vụ này.

Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM đã phát triển vào những năm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu. Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lý rõ ràng nên hoạt động được một thời gian các ngân hàng tỏ ra rất lúng túng trong việc cấp tín dụng theo hình thức này.

Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực cho vay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ lên, hiện nó đang được xem là thị trường tiềm năng và có nhiều điều kiện phát triển mạnh của các NHTM tại Việt Nam.

2. Khái niệm cho vay tiêu dùng

Có nhiều quan điểm khác nhau về cho vay tiêu dùng. Có người cho rằng:“cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng đối với người tiêu dùng nhằm tài trợ ho chính sự tiêu dùng”, người khác lại nói: “tín dụng tiêu dùng là quan hệ kinh tế giữa một bên là ngân hàng và một bên là cá nhân người tiêu dùng trong đó ngân hàng chuyển giao tiền cho khách hàng với nguyên tắc người đi vay (khách hàng) sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai”. Nhưng nhìn chung, ta có thể hiểu “cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với mục đích tiêu dùng, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.

Cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng rất hữu ích nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu, mua sắm, sửa chữa nhà cửa… của các cá nhân, hộ gia đình. Các khoản vay này giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có được một cuộc sống có chất lượng cao hơn.

3. Đặc điểm cho vay tiêu dùng

3.1. Quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn

Các khách hàng khi tìm đến ngân hàng với mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn không cao vì nhu cầu của người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa xa xỉ là không cao hoặc đã có tích lũy từ trước đối với những tài sản có giá trị lớn. Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo của khách hàng. Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều.

3.2. Các khoản vay tiêu dùng có lãi suất “cứng nhắc”

Không như hầu hết các khoản vay kinh doanh, lãi suất có thể thay đổi tùy theo điều kiện thị trường, các khoản vay tiêu dùng thường có lãi suất cố định, đặc biệt là trong cho vay tiêu dùng trả góp. Ngay khi quan hệ tín dụng được xác lập thì mức lãi suất đã được ấn định và duy trì trong suốt thời hạn vay. Mặt khác, khi vay tiền, người tiêu dùng thường không quan tâm nhiều tới lãi suất mà họ chỉ quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng kỳ, thời gian được giải ngân và khả năng trả nợ của mình bởi vì người tiêu dùng thường coi vay mượn là công cụ để đạt được một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tình trạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận.

3.3. Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao

Vì đối tượng của hoạt động cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình nên hoạt động này không chỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan của người tiêu dùng mà còn chịu tác động từ các yếu tố khách quan từ bên ngoài. Ta có thể thấy một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này là:

– Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràng như thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng. Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránh không trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán.

Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay. Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi nợ. Đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế được thông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án.

– Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế mở rộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng nhiều hơn, và khi nền kinh tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng.

3.4. Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn

Do số lượng món vay tiêu dùng nhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng số lượng mỗi khoản vay lại nhỏ, ngân hàng phải huy động nhiều nhân lực cho hoạt động cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với khách hàng sau khi cho vay. Mặt khác, ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá nhân, thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các công ty lớn. Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay tiêu dùng cao hơn so với các loại hình cho vay khác.

3.5. Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có khả năng sinh lời cao nhất

Do các khoản vay tiêu dùng thường được định giá cao, theo ước tính chỉ khi nào lãi suất vay vốn trên thị trường và tỉ lệ tổn thất tín dụng tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêu dùng mới không mang lại lợi nhuận. Việc định giá cao là do cho vay tiêu dùng có chi phí lớn và rủi ro cao, hơn nữa là do tâm lý người vay không quan tâm tới lãi suất phải trả, họ thường quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là lãi suất. Mặt khác, nếu như trong kinh doanh, người ta phải hạch toán lãi lỗ thì trong tiêu dùng người ta đặt yếu tố thỏa mãn lên hàng đầu dù có phải trả chi phí lớn hơn.

4. Phân loại cho vay tiêu dùng

Có nhiều cách phân loại cho vay tiêu dùng, tuỳ theo tiêu thức chúng ta lựa chọn mà cho vay tiêu dùng được phân chia thành:

4.1. Căn cứ vào mục đích vay

Cho vay tiêu dùng bất động sản: Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng, cải tạo nhà cửa của cá nhân hay hộ gia đình. Những món vay thường có quy mô lớn và thời gian dài. Việc đánh giá giá trị tài sản tài trợ có vai trò vô cùng quan trọng đối với ngân hàng. Nếu như trong cho vay tiêu dùng thông thường thì thu nhập tương lai của người vay là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định có cho vay hay không thì trong cho vay tiêu dùng bất động sản, giá trị và tình hình biến động giá của tài sản được tài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan tâm. Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tài sản này có giá trị lớn, nên sự biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tới những thiệt hại rất lớn cho ngân hàng.

Cho vay tiêu dùng thông thường: Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí… Những khoản tín dụng thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn, do đó mà mức độ rủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản. Đối với loại cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ của người vay, sau đó mới xem xét đến giá trị tài sản đảm bảo. Có thể thấy một số loại hình cho vay tiêu dùng thông thường như:

Cho vay du học: Là khoản cho vay đối với thân nhân của những người đi du học nhằm mục đích hỗ trợ tài chính cho người đi du học (tại chỗ hoặc nước ngoài).

Cho vay mua xe hơi: Là khoản cho vay đối với cá nhân có nhu cầu mua tô phục vụ cho nhu cầu cá nhân.

Cho vay hỗ trợ tiêu dùng khác: Là các khoản vay để phục vụ cho các mục đích đa dạng khác như chữa bệnh, cưới hỏi, đi du lịch… 

4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả

Cho vay tiêu dùng trả góp: Theo hình thức tài trợ này, thì người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm cả gốc và lãi) theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định (tháng, quý…). Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ của họ không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay.

Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Là khoản vay ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời hoặc mua hàng hoá có giá trị không lớn và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn.

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng nhất định bằng cách sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.

4.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng. Như vậy, cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức NHTM tài trợ cho các hãng bán lẻ hàng lâu bền, các công ty xây dựng để họ bán hàng trả góp cho người tiêu dùng. Có thể thấy rõ quy trình của hoạt động cho vay tiêu dùng gián tiếp thông qua sơ đồ sau:

Ảnh 1

Ngân hàng và công ty bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng, ngân hàng đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu. 

Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá. Thông thường, người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản. 

Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng. 

Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng. 

Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ. 

Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng. 

Cho vay tiêu dùng gián tiếp có những ưu điểm như giúp ngân hàng tiếp cận được với đối tượng có nhu cầu vay cao, tiết kiệm được chi phí liên quan đến việc thẩm định và đánh giá khách hàng (do có sự trợ giúp của phía nhà bán lẻ), gia tăng uy tín và mở rộng địa bàn hoạt động. Tuy nhiên, cho vay gián tiếp cũng sẽ làm tăng rủi ro đối với ngân hàng do ngân hàng không thể tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, mặt khác nhân viên bán lẻ không được đào tạo về chuyên môn xét duyệt thẩm định các khoản vay lớn. Sự kết hợp đồng thời giữa 3 bên: ngân hàng, người bán lẻ và khách hàng cũng đòi hỏi một sự phối hợp nhịp nhàng và một hợp đồng chặt chẽ về trách nhiệm các bên. 

Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua 3 phương thức. Các phương thức phân chia này chủ yếu dựa trên mức độ liên quan của công ty bán lẻ đối với những rủi ro mà ngân hàng sẽ phải gánh chịu. Ở mức cao nhất, công ty bán lẻ sẽ cam kết thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng. Đây là phương thức an toàn nhất đối với ngân hàng. Theo phương thức thứ hai, trách nhiệm thanh toán của công ty bán lẻ đối với ngân hàng chỉ có giới hạn, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận. Phương thức thứ ba thì ngân hàng sẽ phải chịu toàn bộ rủi ro: sau khi bán các khoản nợ cho ngân hàng, công ty bán lẻ không còn trách nhiệm trong việc chúng có được hoàn trả hay không. Chỉ những công ty bán lẻ rất được ngân hàng tin cậy mới áp dụng hình thức này. Ngoài ba phương thức trên, nếu người tiêu dùng không trả được nợ thì ngân hàng có thể thanh lý tài sản bằng cách bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa được thanh toán. 

Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Đây là hình thức trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của mình, thẩm định và đánh giá nhu cầu vay vốn của khách hàng và việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính ngân hàng. Có thể hình dung quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp qua sơ đồ các bước sau:

Ảnh 2 – Quy trình cho vay tiêu dùng trực tiếp

Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng với nhau. 

Người tiêu dùng trả trước nhà cung cấp một phần số tiền mua hàng hoá của mình. 

Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho nhà cung cấp. 

Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng. 

Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho ngân hàng. 

Ưu điểm của hình thức tài trợ này là: rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng, quyết định cho vay hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ngân hàng, ngoài ra ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ kiến thức kinh nghiệm của cán bộ tín dụng. Hơn nữa, khi khách hàng quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có nhiều khả năng họ sẽ sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng như mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ chuyển tiền… và như vậy quyền lợi của cả hai phía ngân hàng và khách hàng đều được thỏa mãn trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp của cả hai bên. 

5. Đối tượng của hoạt động cho vay tiêu dùng 

Đối tượng mà các NHTM hướng tới khi thực hiện cho vay tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu vay vốn phục vụ nhu cầu tiêu dùng. Việc phân loại các đối tượng vay tiêu dùng sẽ giúp các NHTM trong việc đưa ra những sản phẩm cho vay tiêu dùng phù hợp và đem lại hiệu quả cao nhất. Có rất nhiều tiêu thức để phân loại đối tượng của hoạt động cho vay tiêu dùng, dưới đây là các tiêu thức phổ biến thường gặp.

5.1. Phân theo mức thu nhập

Những người có thu nhập thấp: Họ là những người có hoàn cảnh khó khăn, rất muốn cải thiện đời sống của mình nhưng bị hạn chế do thu nhập không đủ để thoả mãn nhu cầu đa dạng của họ. Tuy nhiên, họ cũng có mong muốn cuộc sống tốt hơn như bất kỳ những người có thu nhập cao hơn nào. Do đó, ngân hàng cũng cần có các biện pháp phù hợp để thu hút những người này đến ngân hàng hiện tại và trong tương lai. Xét trong hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam thời gian này thì đây là những khách hàng tiềm năng đối với các NHTM. 

Những người có thu nhập trung bình: Khi thu nhập tăng thì nhu cầu cải thiện điều kiện sống của người tiêu dùng cũng tăng. Đối với những người thuộc nhóm này thì nhu cầu tín dụng tiêu dùng có hướng tăng trưởng ngày càng mạnh bởi khoản tích lũy của nhóm này tuy ít song thu nhập trong tương lai của họ có phần ổn định để có thể chi trả cho những nhu cầu tiêu dùng hiện tại. 

Những người có thu nhập cao: những người thuộc nhóm này thường cần tới những khoản vay tiêu dùng với mục đích coi đó như là một khoản linh hoạt để chi tiêu và trợ giúp thêm cho khả năng thanh toán, khi mà tiền vốn của họ đã đem đầu tư trung và dài hạn. Mặc dù khoản vay mượn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu nhưng lại là những món tiền lớn so với các nhóm khách hàng khác nên ngân hàng tỏ ra quan tâm đặc biệt đến nhóm khách hàng này.

5.2. Phân theo tình trạng công tác hoặc lao động

Nhu cầu vay tiêu dùng của cá nhân phụ thuộc vào tính chất công việc, nghề nghiệp hoặc nơi công tác. Xét theo đặc điểm phân loại trên, chúng ta có các nhóm khách hàng sau: 

Những khách hàng làm công ăn lương 

Những người có công việc kinh doanh riêng 

Những người hành nghề chuyên nghiệp (ca sĩ, luật sư, bác sı ̃…̣) 

Những người lao động tự do 

Theo cách phân loại trên thì trên thực tế những người thuộc nhóm 3 đầu có thu nhập ổn định và cao hơn so với nhóm cuối và nhu cầu vay tiêu dùng phân theo tình trạng công tác hay lao động cũng chủ yếu xuất phát từ những nhóm đó. 

6. Phân biệt cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh của ngân hàng thương mại 

Mặc dù cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh đều là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho khách hàng, song giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt lớn.

Ảnh 3

Ảnh 4

Ảnh 5

Về quy trình cho vay, cả hai hình thức cho vay này đều phải qua các bước sau: 

Bước 1: Tìm hiểu sơ bộ về khách hàng. 

Bước 2: Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn.

Bước 3: Phân tích tín dụng.

Bước 4: Quyết định tín dụng. 

Bước 5: Giải ngân. 

Bước 6: Thu nợ. 

Tuy giống nhau về các bước trong quy trình nhưng nội dung quy trình, thủ tục của từng bước giữa hai hình thức này có nhiều điểm khác biệt, tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng ngân hàng. 

7. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với sự phát triển kinh tế xã hội 

7.1. Đối với người tiêu dùng 

Cho vay tiêu dùng có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập thấp và trung bình, họ sẽ được hưởng các dịch vụ, tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hoá thiết yếu có giá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu về y tế.

Có thể nói rằng bất cứ một người nào đều mong muốn được thoả mãn những nhu cầu của riêng mình, bắt đầu từ những hàng hoá thiết yếu rồi đến những hàng hoá xa xỉ hơn. Tuy nhiên thực tế là một người trẻ lại chưa có đủ khả năng chi trả cho những nhu cầu của mình mà họ cần thời gian tích luỹ tiền, người tiêu dùng sẽ khéo léo phối hợp giữa thoả mãn nhu cầu ở hiện tại với khả năng thanh toán ở hiện tại và tương lai, nghĩa là họ sẽ thụ hưởng phần thu nhập có trong tương lai. 

Mặt khác, việc thỏa mãn trước nhu cầu sẽ thúc đẩy người tiêu dùng phấn đấu để chi trả cho nhu cầu đó càng sớm càng tốt vì thông thường khi vay ngân hàng để mua sắm thì chính tài sản đó sẽ trở thành vật đảm bảo đối với ngân hàng, mà tâm lý chung của nhiều người là không muốn nắm giữ tài sản mà không phải của mình. Điều này gián tiếp đưa đến việc tăng thu nhập trong tương lai của người tiêu dùng. 

Chính vì những lý do trên mà ngày càng nhiều các cá nhân, hộ gia đình tìm đến ngân hàng với mong muốn ngân hàng sẽ giúp đỡ họ trong việc mua sắm hàng hóa thiết yếu, những hàng hóa có giá trị cao nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và nâng cao cuộc sống. 

7.2. Đối với người sản xuất 

Mục tiêu của tất cả các nhà sản xuất là tăng lợi nhuận, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ sản xuất cùng loại hàng hóa và đứng vững trên thị trường. Để đạt được mục tiêu đó thì dù bằng cách này hay cách khác, các nhà sản xuất đều mong muốn tiêu thụ được càng nhiều hàng hóa càng tốt, họ sẵn sàng bán hàng hóa trả góp, thậm chí bán chịu trong một thời gian. Việc tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể mua hàng hoá nhiều hơn và nhanh hơn là đã giúp nhà sản xuất bán được sản phẩm, quay vòng vốn nhanh hơn, mở rộng sản xuất, do đó lợi nhuận cũng tăng lên. Đây cũng là nguyên do khiến càng ngày càng nhiều nhà sản xuất mong muốn hợp tác với ngân hàng để mở rộng cho vay tiêu dùng. 

7.3. Đối với ngân hàng thương mại 

Trước hết, cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như ta đã biết, cho vay tiêu dùng có chi phí cao nhưng đồng thời cũng tạo ra lợi nhuận lớn hơn nhiều trên một đồng vốn bỏ ra so với các hình thức cho vay khác. Cho vay tiêu dùng cũng giúp ngân hàng thu hút thêm khách hàng sử dụng các hình thức dịch vụ khác, bởi vì thông thường khi cho vay tiêu dùng, ngân hàng thường có ràng buộc khách hàng phải chuyển tiền hoặc sử dụng trả lương qua tài khoản tại ngân hàng… Tuy nhiên, khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ ngân hàng cá nhân tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng. Đây cũng là điều kiện tiên quyết giúp ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập với xu thế quốc tế. 

7.4. Đối với nền kinh tế 

Có thể nói rằng hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế, dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng đều được hưởng những lợi ích do hoạt động của ngân hàng mang lại. Việc ngân hàng thực hiện cho vay tiêu dùng không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu, nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng mà việc cho vay này còn thúc đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng khả năng cạnh tranh của các hãng sản xuất kinh doanh, tạo ra sự năng động cho nền kinh tế. 

Thông qua hoạt động cấp tín dụng cho người tiêu dùng, các NHTM đã góp phần kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước, từ đó hỗ trợ nhà nước trong việc đạt được các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, nâng cao mức sống cho người dân.

8. Phát triển cho vay tiêu dùng 

8.1. Khái niệm 

Xét một cách tổng quát, phát triển được hiểu là sự tăng lên về chất lượng và số lượng. Trong lĩnh vực ngân hàng, phát triển nói chung và phát triển cho vay tiêu dùng nói riêng là một chỉ tiêu rất tổng hợp, có liên quan chặt chẽ đến việc gia tăng về quy mô, đối tượng cho vay, sự thay đổi theo hướng tích cực trong cơ cấu các sản phẩm cho vay tiêu dùng đang cung cấp. Phát triển cho vay tiêu dùng cũng được biểu hiện cụ thể qua chất lượng và hiệu quả của hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng đó. 

8.2. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại 

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh sự phát triển trong hoạt động cho vay tiêu dùng của một ngân hàng, trong đánh giá cho vay tiêu dùng người ta sử dụng các chỉ tiêu sau: 

Quy mô cho vay tiêu dùng: cho biết sự phát triển của cho vay tiêu dùng theo chiều rộng, phản ánh thông qua các chỉ tiêu như doanh số cho vay, doanh số thu nợ và tổng dư nợ của hoạt động cho vay tiêu dùng. 

Cơ cấu cho vay tiêu dùng: phản ánh sự tập trung vào một sản phẩm hay đa dạng các loại hình cho vay tiêu dùng. Cơ cấu không đồng đều phản ánh sự tập trung phát triển của ngân hàng vào những sản phẩm chiếm tỷ trọng cao và cơ cấu sản phẩm cho vay tiêu dùng khá đồng đều phản ánh sự đa dạng về sản phẩm. Tùy theo từng thời kỳ và mục đích phát triển mà ngân hàng có chiến lược thay đổi cơ cấu cho vay tiêu dùng phù hợp.

Đối tượng cho vay tiêu dùng: là những khách hàng có nhu cầu vay tiêu dùng mà ngân hàng đang hướng tới và phục vụ. 

Chất lượng cho vay tiêu dùng: chỉ tiêu này là một chỉ tiêu tổng hợp, không thể phản ánh thông qua một tiêu thức cụ thể mà phải đánh giá nó qua quan điểm chủ quan của khách hàng, những tín hiệu mà cán bộ tín dụng nhận biết được qua quá trình giao dịch: sự tin cậy, cảm tình, thông cảm của khách hàng trong hoạt động này. Có thể đánh giá qua các chỉ tiêu: 

+ Độ an toàn, chính xác trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay tiêu dùng. 

Thủ tục giao dịch khi khách hàng đến vay nhằm mục đích tiêu dùng. 

Tốc độ xử lý các giao dịch là nhanh hay chậm: thủ tục thẩm định tài chính, mục đích sử dụng vốn, thủ tục thẩm định tài sản đảm bảo. 

Hiệu quả của hoạt động cho vay tiêu dùng: phản ánh thông qua doanh thu từ hoạt động cho vay tiêu dùng hoặc tỷ trọng thu lãi từ cho vay tiêu dùng trên tổng thu lãi từ hoạt động cho vay. Chỉ tiêu này cho biết hoạt động cho vay tiêu dùng đem lại lợi nhuận bao nhiêu và đóng góp bao nhiêu vào tổng thu lãi từ hoạt động cho vay. Chỉ tiêu này giúp ngân hàng trong việc xây dựng định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng.