Lý luận chung về chi phí vốn trong doanh nghiệp

Trong bài viết này, luanvantaichinh.net sẽ chia sẻ đến bạn những lý luận chung về chi phí vốn trong doanh nghiệp.
Lý luận chung về chi phí vốn trong doanh nghiệp

1. Khái niệm chi phí vốn

Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất. Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định. 
“Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất. Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp cần bỏ ra một chi phí nhất định. Chi phí của mỗi một nhân tố cấu thành gọi là chi phí nhân tố cấu thành của loại vốn cụ thể đó. Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng đạt được trên vốn đầu tư vào dự án hoặc doanh nghiệp để giữ không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở hữu” (PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, tr.125). 
Có thể hiểu chi phí vốn là chi phí mà nhà đầu tư phải trả cho việc sử dụng nguồn vốn cụ thể nào đó để tài trợ cho quyết định đầu tư của mình. Chi phí vốn bao gồm chi phí trả cho việc sử dụng nợ vay và chi phí trả cho việc đầu tư bằng nguồn vốn chủ sở hữu dưới các hình thức bổ sung bằng lợi nhuận chưa phân phối hoặc bổ sung bằng các quỹ chuyên dùng của doanh nghiệp. 
Chi phí vốn có thể tính bằng số tuyệt đối hoặc tương đối, tuy nhiên để dễ dàng so sánh, thông thường người ta sử dụng số tương đối. 
Vậy chi phí vốn được tính theo công thức tổng quát sau:
Chi phí vốn = Chi phí thực tế/Tổng vốn sử dụng

2. Chi phí nợ phải trả

Chi phí nợ phải trả được đo lường hoặc là trước hoặc là sau thuế, tuy nhiên, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ trước thuế nên chi phí nợ phải trả sau thuế thường được quan tâm hơn. 
Chi phí nợ ngắn hạn
Chi phí nợ ngắn hạn (kb) là khoản chi phí trả lãi cho người cho vay hoặc ngân hàng trước thuế.Để so sánh chi phí của nợ ngắn hạn, cần phải quy đổi các chi phí về cùng một đơn vị đo lường và cùng một khoảng thời gian. Để quy đổi chi phí ra năm, thông thường có 2 cách quy đổi là phương pháp lãi đơn và lãi kép:
Lãi kép: số lãi tính bằng cách cộng dồn lãi kỳ trước vào vốn để tính lãi kỳ tiếp theo. Đặc điểm của lãi kép là chẳng những vốn sinh lợi mà lãi cũng sinh lợi (lãi mẹ đẻ lãi con).
Lãi đơn: là việc tính lãi dựa trên vốn gốc (vốn đầu tư ban đầu). Vì thế, theo phương pháp lãi đơn thì số lãi cuối kỳ luôn bằng nhau nếu vốn gốc bằng nhau.
Chi phí: chi phí nợ ngắn hạn, là toàn bộ chi phí phải trả cho người cho vay bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp như lãi vay, phí đảm bảo, phí thẩm định, v.v… 
Lợi ích: là toàn bộ lợi ích doanh nghiệp đạt được liên quan đến việc sử dụng nợ ngắn hạn. 
Giá trị tài trợ ròng: là giá trị vốn doanh nghiệp sử dụng được trong kỳ. 
Tuy nhiên, phần lớn các vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong tài chính liên quan đến giá trị dòng tiền đều được xây dựng trên nền tảng lãi kép thay vì lãi đơn. Lý do là lãi kép phản ánh chính xác hơn chi phí cơ hội của đồng tiền. Do đó, nghiên cứu sẽ xem xét chi phí vốn theo phương pháp lãi kép.

Chi phí tín dụng thương mại 
Tín dụng thương mại chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố chính là thời gian cung cấp – hưởng tín dụng, chính sách chiết khấu thanh toán và quy mô tín dụng thương mại. Khoảng thời gian mà khoản tín dụng được chấp nhận lại phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, nhưng phần lớn là vào khoảng 30 – 120 ngày. Quy mô tín dụng thương mại đối với bên cho hưởng là mức doanh thu bán trả chậm (phải thu khách hàng), đối với bên được hưởng là nợ phải trả người bán Và yếu tố tác động mạnh mẽ nhất tới tín dụng thương mại chính là chính sách chiết khấu thanh toán.Trong nghiên cứu này, ta là bên được nhận tín dụng thương mại. 
Chi phí vay ngắn hạn ngân hàng 
– Đối với phương thức vay theo hạn mức tín dụng 
Khi có thỏa thuận vay theo hạn mức tín dụng, công ty phải trả phí cam kết cho ngân hàng dù công ty có rút tiền theo hạn mức tín dụng hay không và phải thanh toán lãi vay ngay khi rút tiền mặt trong phạm vi hạn mức
– Đối với phương thức vay theo hợp đồng (vay từng lần) 
Chi phí khoản vay phụ thuộc vào điều kiện gắn với hợp đồng vay song ta vẫn áp dụng công thức tổng quát. Chúng ta xem xét các điều kiện trả khác nhau là: trả lãi thông thường; trả lãi chiết khấu (đây là hình thức trả lãi trước nên giá trị tài trợ ròng không bao gồm lãi); trả lãi nhiều lần (hình thức trả lãi hàng tháng); lãi vay thay đổi (lãi suất thay đổi nên ta cần tách các khoảng thời gian ứng với từng mức lãi suất để xác định chi phí và lợi ích); lãi tiền gửi bù đắp (tiền gửi bù đắp là một khoản tiền gửi có kỳ hạn mà ngân hàng yêu cầu khách hàng duy trì ở ngân hàng mình khi cho khách hàng vay tiền).
Chi phí vay bằng phát hành thương phiếu 
Thương phiếu thường được bán theo phương thức chiết khấu từ mệnh giá (trả lãi trước). Tại thời điểm đáo hạn, sự khác biệt giữa giá và mệnh giá thu được chính là lãi phải trả cho thương phiếu phát hành.Ngoài ra, người phát hành phải trả nhiều loại chi phí khi phát hành thương phiếu. Người phát hành cần phải đảm bảo thương phiếu phát hành 100% với hạn mức tín dụng từ ngân hàng thương mại. Nếu có hạn mức tín dụng, công ty thường phải chịu một khoản phí chiếm 0,25% đến 0,75%. Nếu không sử dụng hạn mức tín dụng, một thủ tục thông thường khác đối với các thương phiếu là người phát hành phải có tiền gửi bù đắp tại một ngân hàng. Ngoài ra, công ty còn phải trả một khoản lệ phí để xếp hạng thương phiếu. Từ đó, áp dụng công thức tổng quát, ta xác định được chi phí nợ bằng thương phiếu.
Chi phí vay ngắn hạn có đảm bảo
Cả hai phương thức vay đảm bảo bằng khoản phải thu và vay đảm bảo bằng hàng tồn kho đều sử dụng công thức tổng quát để xác định kb. Cần chú ý chi phí của mỗi hình thức. 
Theo thỏa thuận cầm cố, người vay tiền sử dụng các khoản phải thu khách hàng thế chấp cho khoản vay. Người đi vay thường phải trả một khoản phí để xử lý thường là 1% tổng các khoản phải thu được cầm cố. Phí xử lý này trả cho thời gian liên quan đến xem xét lại các khoản phải thu được cầm cố của tổ chức cho vay.
Đối với khoản vay bảo đảm bằng hàng tồn kho, chi phí chính gồm hai phần là chi phí xử lý nếu theo phương thức tín chấp, hay chi phí bảo quản hàng lưu kho nếu theo phương thức kho hàng tại hiện trường và chi phí lãi vay với mức lãi suất thường cao hơn so với lãi suất cơ bản từ 2 – 4%.
Nợ tích lũy 
Như đã nêu ở trên, nợ tích lũy được sử dụng khá dễ dàng và không phải trả lãi vay tức là công ty không phải đánh đổi chi phí nào khi sử dụng nguồn vốn nợ này. 
Chi phí nợ dài hạn 
Chi phí vay dài hạn 
Về nguyên tắc, chi phí vay dài hạn và chi phí nợ ngắn hạn có cách tính giống nhau. Chi phí vay dài hạn trước thuế được tính toán dựa trên cơ sở lãi suất vay, lãi suất này thường được ấn định trong hợp đồng vay: kd.Chi phí vay dài hạn sau thuế được xác định bằng chi phí vay dài hạn trước thuế trừ đi khoản thuế tiết kiệm được nhờ lãi vay. 
Chi phí vay dài hạn kd phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như lãi suất của khoản vay dài hạn, số kỳ tính lãi trong năm. 
Vì khoản vay dài hạn có rủi ro thanh toán cao hơn khoản nợ ngắn hạn, nên bên cho vay thường áp lãi suất cho vay cao hơn. Khi đó, chi phí vay dài hạn sẽ cao hơn.
Số kỳ tính lãi trong năm cũng là một yếu tố có ảnh hưởng lớn tới chi phí nợ dài hạn. Số kỳ tính lãi lớn, tức thời hạn vay lâu dài.Thời hạn vay càng dài thì rủi ro thanh toán càng lớn, dẫn đến lãi suất cho vay càng cao. Và chi phí nợ dài hạn cũng sẽ tăng lên.
Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ 
Trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ là loại trái phiếu có xác định thời gian đáo hạn và lãi suất được hưởng qua từng thời hạn nhất định. Khi mua loại trái phiếu này, nhà đầu tư được hưởng lãi định kỳ, thường là hàng năm, theo lãi suất công bố trên mệnh giá trái phiếu và được hoàn lại vốn gốc bằng mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.
Trái phiếu có kỳ hạn không hưởng lãi định kỳ 
Cách xác định giá trị loại trái phiếu này cũng tương tự như trái phiếu có kỳ hạn được hưởng lãi định kỳ, chỉ khác ở chỗ lãi suất ở đây bằng 0 nên toàn bộ hiện giá của phần lãi định kỳ bằng 0. Do vậy, giá trị của trái phiếu không hưởng lãi được định giá là hiện giá của mệnh giá khi trái phiếu đáo hạn.
Trái phiếu nửa năm trả lãi một lần
Thông thường trái phiếu được trả lãi hàng năm một lần, nhưng đôi khi cũng có loại trái phiếu trả lãi mỗi năm hai lần. Kết quả là mô hình định giá trái phiếu thông thường phải có một số thay đổi thích hợp để định giá trong trường hợp này.

3. Chi phí vốn chủ sở hữu

Chi phí vốn cổ phần ưu đãi 
Cổ phần ưu đãi được xem như là một loại nguồn vốn chủ sở hữu đặc biệt trong một doanh nghiệp. Những cổ đông ưu đãi sẽ được nhận cổ tức cố định như đã công bố với thứ tự ưu tiên trước khi lợi nhuận thuần được phân phối cho các cổ đông nắm giữ cổ phần. Vì cổ phần ưu đãi là một nguồn tài trợ vốn chủ sở hữu nên doanh thu từ phát hành cổ phần ưu đãi là vĩnh viễn.
Chi phí vốn cổ phần thường 
Chi phí cổ phần thường là tỷ suất sinh lời trên mỗi cổ phần thường do các nhà đầu tư trên thị trường vốn kỳ vọng. Tương tự như trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi, chúng ta thấy rằng giá cổ phiếu thường cũng được xem như là hiện giá dòng tiền tệ thu nhập tạo ra cho nhà đầu tư từ cổ phiếu.

Chi phí lợi nhuận để lại 
Lợi nhuận để lại là phần lợi tức mà các cổ đông được chia, nhưng doanh nghiệp giữ lại khoản lợi tức này để tái đầu tư. Điều này có nghĩa là lợi nhuận giữ lại này là sự gia tăng nguồn vốn cổ phần mà không tốn chi phí phát hành. Chi phí lợi nhuận để lại là loại chi phí ngầm và có thực. Về nguyên tắc, có thể xem lợi nhuận để lại cũng giống như nguồn vốn từ các cổ phần tăng thêm nhưng không phát hành cổ phiếu mới, tức là khoản này được coi như bằng với các khoản lãi của các cổ đông đòi hỏi với các cổ phiếu của họ, tức là bằng với chi phí vốn cổ phần thường. Để xác định chi phí lợi nhuận để lại, ta cũng sử dụng phương pháp chiết khấu cổ tức hoặc CAPM như việc xác định chi phí vốn cổ phần thường. 
Chi phí lợi nhuận để lại kre không cần điều chỉnh theo chi phí phát hành vì lợi nhuận giữ lại để gia tăng nguồn vốn không làm phát sinh những chi phí này.

4. Chi phí vốn bình quân

Vốn của một công ty hay của một dự án được huy động từ hai nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ vay. Mỗi một nguồn vốn đòi hỏi một tỷ suất sinh lời khác nhau. Đối với người cho vay, yêu cầu của họ là lãi suất, đối với vốn chủ sở hữu thường có suất sinh lời cao hơn do rủi ro cao hơn. 
Trong doanh nghiệp luôn sử dụng nhiều nguồn tài trợ khác nhau. Vì vậy, cần xác định chi phí vốn bình quân (Weight average cost of capital – WACC) của tất cả các nguồn vốn đó. Chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cấu trúc vốn thay đổi thì chi phí vốn bình quân cũng thay đổi.
Nói rộng hơn, tài sản của doanh nghiệp được tài trợ dù bằng vốn CSH hay bằng nợ thì WACC là chi phí vốn bình quân của các khoản tài trợ của doanh nghiệp. Bằng việc tính toán chỉ số WACC, chúng ta biết được doanh nghiệp phải tốn bao nhiêu chi phí cho mỗi đồng tiền tài trợ cho doanh nghiệp. 
WACC của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định mua lại doanh nghiệp khác. WACC được sử dụng như một tỷ lệ chiết khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Còn nếu dự án có mức độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ chiết khấu sẽ đòi hỏi 1 tỷ lệ cao hơn tương ứng với mức rủi ro của dự án đó và ngược lại.

5. Chi phí sử dụng vốn cận biên và quyết định đầu tư

Chi phí cận biên của bất kỳ khoản mục nào là chi phí của một đơn vị tăng thêm của khoản mục đó. Khi doanh nghiệp cố gắng thu hút những đồng vốn mới, chi phí của mỗi đồng vốn tại một thời điểm nào đó sẽ tăng lên. Vì vậy, “chi phí cận biên của vốn (MCC) được định nghĩa như là chi phí của đồng vốn mới cuối cùng mà doanh nghiệp huy động và chi phí cận biên sẽ tăng khi càng nhiều vốn được huy động trong một giai đoạn nào đó” (PGS.TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, tr.134). Quy mô doanh nghiệp tăng thì chi phí sử dụng vốn bình quân cũng tăng.
Để tính toán chi phí sử dụng vốn cận biên, ta cần xác định điểm gãy, là điểm mà tại đó tổng quy mô các nguồn tài trợ vượt quá làm chi phí của một trong những nguồn tài trợ thành phần sẽ gia tăng.