Lý luận chung về hợp đồng tín dụng

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung những lý luận chung về hợp đồng tín dụng, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm và nội dung 

Lý luận chung về hợp đồng tín dụng

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa

1. Khái niệm hợp đồng tín dụng

Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng lời nói (hoặc văn bản) giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. 

Từ quan niệm chung về hợp đồng, căn cứ vào bản chất hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, có thể đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.

2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng ngân hàng là một dạng của hợp đồng vay, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng đơn vụ theo quy định tại khoản 2-điều 405 Bộ luật dân sự. Điều đó có nghĩa là trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ có bên tín dụng mới có quyền yêu cầu và bên khách hàng có nghĩa vụ phải trả đầy đủ số nợ tín dụng khi đến hạn và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có những điểm đặc thù so với các hoạt động kinh doanh khác nên hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng có những đặc điểm riêng. Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong giao lưu dân sự và thương mại.

2.1. Về chủ thể hợp đồng tín dụng

Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định như luật tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng…và các văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là điểm khác cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay khác. Tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn trong hợp đồng tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định về tư cách pháp lý và khả năng tài chính như: khách hàng vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật và phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

2.2. Đối tượng của hợp đồng tín dụng

Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng; ngoài ra còn có các giấy tờ có giá như quyền sử dụng đất, các tài sản khác như nhà ở…

2.3. Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay

Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác. Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng, đặc thù của hai bên chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng. Hợp đồng tín dụng ngân hàng khác với hợp đồng vay tài sản trong pháp luật dân sự ở chỗ đối tượng duy nhất của hợp đồng tín dụng ngân hàng là tiền tệ, trong khi đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc vật. Tiền tệ với một trong các chức năng của mình là phương tiện thanh toán giúp cho khách hàng vay của ngân hàng sử dụng chúng một cách dễ dàng, thậm chí sử dụng chúng ngoài những mục đích mà họ cam kết với ngân hàng khi xin vay. Mặt khác, với tư cách là một tổ chức trung gian tài chính, là nhịp cầu kết nối giữa nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ, các tổ chức tín dụng đã điều tiết từ nơi tạm thời thừa vốn sang tạm thời thiếu vốn, áp dụng các biện pháp thích hợp để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo nên nguồn vốn cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động, các tổ chức tín dụng thông qua các hợp đồng tín dụng, đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các khách hàng vay thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, chính do chức năng trung gian này của các tổ chức tín dụng mà các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay sẽ ảnh hưởng ngay đến các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, do tín dụng ngân hàng được hình thành chủ yếu trên cơ sở tiền gửi của dân chúng, nên rủi ro trong tín dụng ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng và cả xã hội. Còn đối với hợp đồng vay tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự, do người cho vay dùng tài sản của chính mình để cho vay nên khi rủi ro xảy ra thì chỉ người cho vay phải gánh chịu hậu quả. Rủi ro này không làm ảnh đến những người khác và xã hội như đối với hợp đồng tín dụng. Đặc trưng này đã tạo ra cho hợp đồng tín dụng có những nét đặc thù như điều kiện chặt chẽ về chủ thể, về hình thức hợp đồng, về các biện pháp bảo lãnh.

2.4. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng

Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình.

2.5. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận

Khác với hợp đồng vay tài sản yếu tố lãi suất không phải là yếu tố bắt buộc, mà phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Trong hợp đồng tín dụng tổ chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp cho những chi phí cho các hoạt động của mình như: trả lãi tiền gửi, trả lương cho nhân viên… mà còn nhằm bảo đảm cho những hoạt động đặc trưng mang tính rủi ro cao của mình, bù đắp cho các rủi ro luôn xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, việc thu lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng, mà còn xuất phát lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của xã hội.

2.6. Hợp đồng tín dụng chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản

Hợp đồng tín dụng đòi hỏi văn phạm trong việc soạn thảo hợp đồng phải dứt khoát, rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý và ngôn ngữ phải chính xác, cụ thể. Hình thức văn bản là đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng. Mặc dù hợp đồng tín dụng được hình thành trên cơ sở tín nhiệm, tin cậy lẫn nhau, song do tính chất phức tạp của quan hệ tín dụng ngân hàng xuất phát từ tính rủi ro cao, từ đặc thù về đối tượng, về chủ thể của quan hệ đó, mà hợp đồng tín dụng nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản.

2.7. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng ưng thuận

Hợp đồng tín dụng đã phát sinh hiệu lực ngay sau khi các bên giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Còn các hợp đồng vay khác luôn luôn là hợp đồng thực tế, nghĩa là hợp đồng này chỉ được có hiệu lực khi các bên thực hiện hành vi chuyển giao cho nhau đối tượng vay mà họ đã thỏa thuận.

3. Nội dung của hợp đồng tín dụng

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không vi phạm điều cấm của pháp luật và nó không trái với đạo đức xã hội. Nội dung của hợp đồng tín dụng phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận về ý chí; thỏa mãn những điều kiện: 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải do chính các bên soạn thảo ra trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi. 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải phản ánh ý chí đích thực của các bên giao kết và phải phù hợp với quy định của pháp luật. 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải là kết quả của sự đồng ý giữa các bên giao kết. Sự hoà hợp ý chí chung giữa các bên ký kết là một trong những điều kiện căn bản để đảm bảo cho sự hữu hiệu của hợp đồng tín dụng. Trái lại, nếu bất kỳ một điều khoản nào đó của hợp đồng tín dụng mà có bằng cớ chứng minh rằng không có sự đồng thuận giữa các bên lập ước thì điều khoản đó có thể bị coi là vô hiệu.