Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là gì? Trong bài viết này, luanvanketoan.com sẽ chia sẻ đến bạn nội dung về những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng.

Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng
Những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng

>>> Xem thêm: Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại

1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế 

1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng 

Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người cho vay (ngân hàng thương mại) sang người đi vay (khách hàng) và sau thời gian nhất định theo thoả thuận bên đi vay hoàn trả cả gốc và lãi cho bên cho vay. 

Hoạt động tín dụng là một phần của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Hoạt động này ra đời từ buổi bình minh của ngân hàng và trở thành một trong hai nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Đây cũng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng bởi vì thu nhập từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập của ngân hàng, lượng tiền cho vay cũng tăng lên đáng kể, các hình thức cho vay cũng vô cùng phong phú. 

1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế 

Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội 

Thứ nhất: Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. 

Thứ hai: Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh. 

Thứ ba: Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội. 

Thứ tư: Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng. 

Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô 

Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.

Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội 

Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ Ngân sách Nhà nước. Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Chẳng hạn việc tài trợ vốn cho người nghèo ngày nay được thực hiện phổ biến bằng tín dụng đối với người nghèo với lãi suất thấp. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng lao động của họ cũng sẽ được cải thiện từng bước. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn tại độc lập với nguồn tài trợ. Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng. 

1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng 

Dựa vào mục đích nghiên cứu mà người ta phân chia hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại theo những tiêu thức khác nhau. 

• Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay: 

Khi phân chia theo tiêu thức này, các nhà ngân hàng mong muốn tìm ra được nguồn tiền trả nợ cho ngân hàng. Tuỳ theo mục đích sử dụng tiền vay của những người vay tiền mà người ta phân chia hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại thành hai loại chính là:

Tín dụng tiêu dùng: Mục đích của loại tín dụng này là người đi vay phải sử dụng tiền vay vào việc tiêu dùng, mua sắm tài sản… nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân.

Khi thực hiện hình thức cho vay này, cán bộ tín dụng đã phải tính đến là nguồn tiền được dùng trả nợ ngân hàng chính là thu nhập cá nhân của người vay tiền. Hình thức cho vay này chỉ mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển và những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra khiến giới tư bản sản xuất đã phải bỏ đi bao nhiêu hàng hoá khi mà nhu cầu tiêu dùng có nhưng không có cầu thực sự. Hình thức phổ biến nhất của loại hình này là cho vay trả góp, một loại hình đã được áp dụng rất thành công ở các nước phát triển. Ngân hàng có thể cho các công chức vay để họ mua sắm ôtô, trả góp nhà ở các nước phương Tây và Mỹ thì việc một người có thể mua ôtô để đi lại trở nên rất dễ dàng trong khi tài khoản của anh ta không cần phải có 100% hay 50% giá trị của chiếc xe đó. Điều này đã giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá trở nên thuận lợi hơn, do vậy nó thúc đẩy sản xuất phát triển. 

Tín dụng công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ: Mục đích của loại tín dụng này là ngân hàng cho các doanh nghiệp vay để phục vụ hoạt động kinh doanh của mình, nhằm mở rộng sản xuất hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về tiền của doanh nghiệp. Dựa vào đặc điểm của từng ngành mà ngân hàng sẽ thiết lập các điều kiện cho vay, phương thức cho vay, cách thức trả nợ dựa trên nguồn thu tiền bán hàng của doanh nghiệp. Có thể phân chia loại hình này theo tiêu thức là cho vay doanh nghiệp sản xuất và cho vay doanh nghiệp thương mại hay có thể phân chia theo các ngành nghề kinh tế như: cho vay ngành nông nghiệp, cho vay ngành công nghiệp, cho vay ngành dịch vụ. 

• Dựa theo thời hạn: 

Dựa vào thời hạn của khoản vay, người ta có thể phân thành các khoản tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung dài hạn. 

Tín dụng ngắn hạn: Các khoản vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đây là loại cho vay chiếm tỉ trọng lớn nhất của các ngân hàng thương mại. 

Tín dụng trung dài hạn: Các khoản vay trung và dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 1 năm. 

Đặc điểm: 

Vốn trong nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn chủ yếu gắn liền với quá trình luân chuyển vốn cố định của DN hay TD trung dài hạn tài trợ thiếu hụt về vốn cố định cho DN. 

Tín dụng trung dài hạn gắn liền với các dự án đầu tư của DN, do đó có quy mô và thời gian thực hiện kéo dài và tính chất phức tạp cao. Điều này đòi hỏi NH phải có biện pháp quản lý phù hợp. 

Tín dụng trung dài hạn tiềm ẩn nhiều rủi ro -> lãi suất thường cao. 

• Dựa theo hình thức bảo đảm của khoản vay. 

Có thể phân chia các khoản cho vay của ngân hàng theo tiêu thức này như sau: Các khoản cho vay có bảo đảm và các khoản cho vay không có bảo đảm. 

Các khoản cho vay có bảo đảm là những khoản cho vay mà bên cạnh việc cho khách hàng vay vốn, ngân hàng còn nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi vốn vay khi người vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Quá trình cung ứng vốn của ngân hàng thương mại, không kể dưới hình thức nào đều làm tăng khối lượng tiền vào nền kinh tế, làm tăng lượng hàng hoá trên thị trường. Ngoài ra khi thực hiện việc cho vay, ngân hàng không trực tiếp quản lý nguồn vốn của mình vì thế có rất nhiều rủi ro xảy ra, nguy cơ không thu hồi đủ vốn vay là rất cao vì thế các ngân hàng khi cho vay thường yêu cầu người vay phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay. Tài sản bảo đảm có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: 

Tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay ngân hàng. 

Tài sản bảo đảm là tài sản của người đi vay. 

Tài sản bảo đảm là tín chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba. 

Trong cho vay kinh doanh, nguồn thu nợ thứ nhất là doanh thu đối với vay vốn lưu động, hoặc là khấu hao, lợi nhuận đối với những khoản vay trung và dài hạn. Trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu nhập cá nhân như tiền lương, các khoản thu nhập tài chính và các khoản thu nhập khác. Khi đánh giá hoạt động của khách hàng, nếu ngân hàng nhận thấy là nguồn thu nhập thứ nhất không có cơ sở chắc chắn thì ngân hàng phải yêu cầu thiết lập thêm cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợ thứ hai, chính là tài sản bảo đảm cho khoản vay đó. Trong quá trình phân tích khách hàng khi cho vay, người ta quan tâm đến sáu yếu tố là: năng lực (capacity), uy tín (character), tiền mặt (cash), tài sản bảo đảm (collateral), các điều kiện khác (conditions), kiểm soát (control). Trong sáu yếu tố trên, tài sản bảo đảm là yếu tố kém quan trọng nhất vì khi cho khách hàng vay, ngân hàng luôn mong muốn sẽ thu hồi được cả lãi và vốn vay, nếu có rủi ro xảy ra ngân hàng buộc phải xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi vốn vay, khi này thì ngân hàng là người gặp khó khăn nhất. 

Các khoản cho vay không có bảo đảm là những khoản cho vay mà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người đi vay để xử lý nhằm thu hồi nợ mà thay vào đó là những điều kiện ràng buộc khác khi kí hợp đồng tín dụng. 

Những điều kiện này có thể là: Người đi vay không được giao dịch với ngân hàng nào khác, hoạt động kinh doanh của người đi vay phải được ngân hàng quản lý. Có như vậy ngân hàng mới quản lý được tình hình tài chính của người đi vay. Thông thường chỉ có những khách hàng có quan hệ lâu năm với ngân hàng hoặc những khách hàng có uy tín, hay những khách hàng mà ngân hàng có tham gia góp vốn vào thì mới được cho vay không có bảo đảm. 

• Dựa theo phương thức hoàn trả: 

Căn cứ vào phương thức hoàn trả vốn vay, thì có thể phân loại cho vay của ngân hàng thành: 

Các khoản vay được hoàn trả một lần: theo phương thức này vốn vay được cấp cho người vay sau đó khi đến hết thời hạn vay vốn, người đi vay sẽ hoàn trả cho ngân hàng toàn bộ số vốn vay và lãi một lần. 

Các khoản vay được hoàn trả định kì: Theo phương thức này, cứ sau một khoảng thời gian nhất định người đi vay phải hoàn trả một phần vốn vay cho ngân hàng. Vốn vay và lãi có thể được hoàn trả theo các phương thức: gốc trả đều, lãi trả theo số dư; vốn vay được trả theo niên kim cố định; gốc trả theo cấp số cộng hay cấp số nhân, lãi trả theo số dư… 

Việc lựa chọn phương thức hoàn trả vốn vay là phụ thuộc vào sự thoả thuận của ngân hàng với khách hàng, điều này cũng phụ thuộc vào đặc điểm và tình hình hoạt động của khách hàng. Ngân hàng luôn lựa chọn phương thức hoàn trả vốn vay có lợi cho mình nhất. 

• Dựa vào nguồn gốc hình thành khoản vay: 

Theo tiêu thức này, các khoản cho vay của ngân hàng có thể phân chia thành các khoản cho vay trực tiếp tại ngân hàng và các khoản cho vay gián tiếp qua ngân hàng. 

Các khoản cho vay trực tiếp tại ngân hàng là những khoản cho vay khi khách hàng đến trực tiếp ngân hàng và xin vay vốn. Hầu hết các phương thức cho vay của ngân hàng được áp dụng là hình thức này. 

Các khoản cho vay gián tiếp qua ngân hàng là những khoản cho vay mà ngân hàng có thể mua lại từ một ngân hàng thương mại khác hay từ công ty mua bán nợ.

Việc lựa chọn phương thức cho vay cho phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của người đi vay là một vấn đề quan trọng của chính sách cho vay của ngân hàng. Khi một ngân hàng có một chính sách cho vay phù hợp với nhu cầu về vốn của người sử dụng, nó sẽ góp phần làm cho đồng vốn huy động được của ngân hàng trở nên có ý nghĩa, việc sử dụng vốn của ngân hàng hiệu quả, đồng thời nó góp phần vào việc cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển.

2. Đa dạng hóa các phương thức cho vay của ngân hàng thương mại 

2.1. Quan niệm về đa dạng hoá các phương thức cho vay của NHTM

Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của ngân hàng thương mại. Doanh thu từ hoạt động này thường chiếm đến 70% doanh thu, ở các nước phát

triển, hay đến 90% doanh thu của ngân hàng, ở các nước đang phát triển. Vì vậy mà hoạt động này thu hút sự chú ý không chỉ của những nhà quản trị ngân hàng, khách hàng mà còn thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách. Các phương thức cho vay của ngân hàng là điều mà các khách hàng đi vay quan tâm đến. Bởi vì việc ngân hàng áp dụng các phương thức cho vay nào liên quan đến nhu cầu của khách hàng, hiệu quả sử dụng vốn vay. Đa dạng hoá các phương thức cho vay của ngân hàng là việc một ngân hàng áp dụng nhiều phương thức cho vay, phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng trong nền kinh tế, nhằm thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng trong lĩnh vực tín dụng và nhằm giữ khách hàng truyền thống, mở rộng khách hàng mới trên các thị trường khác nhau. 

2.2. Sự cần thiết phải đa dạng hoá các phương thức cho vay của NHTM 

Đa dạng hoá các phương thức cho vay là một yêu cầu đối với ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.

Đa dạng hoá các phương thức cho vay là một phần quan trọng trong quá trình đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng thương mại. Đa dạng hoá các hoạt động của ngân hàng hiện nay là một đòi hỏi cần thiết đối với mỗi ngân hàng. Hiện nay, khoảng 80% doanh thu của các ngân hàng thương mại Việt Nam là từ hoạt động tín dụng vì vậy mà bất cứ một yếu tố nào xảy ra gây bất lợi cho hoạt động cho vay cũng đều ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Hơn nữa, hoạt động cho vay được coi là lĩnh vực có nhiều rủi ro và thất thoát vốn chính vì thế mà các ngân hàng thương mại cần phải coi đa dạng hoá các phương thức cho vay như là một chiến lược nhằm hạn chế tối đa rủi ro xảy ra trong hoạt động cho vay.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, mà trước tiên là đổi mới về kinh tế: từ một nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Việc đổi mới cơ chế quản lý đã tạo tiền đề cho việc đổi mới hoạt động ngân hàng. Hơn nữa, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước cũng đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải trở thành trung gian tài chính hiệu quả để có thể huy động được nhiều nguồn lực cả trong và ngoài nước, mở rộng đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định đất nước. Điều này đòi hỏi một ngân hàng cần phải đa dạng hoá hoạt động của mình để đáp ứng được những yêu cầu của đổi mới đất nước. 

Đặc biệt, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ góp phần đưa ra cho nền kinh tế nhiều hình thức vay vốn đáp ứng được những nhu cầu đa dạng của các thành phần kinh tế, cung ứng vốn kịp thời cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 

Do đòi hỏi của nền kinh tế đang đổi mới và phát triển, nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính tín dụng đã ra đời. Song chính sự hoạt động đa dạng của nhiều loại hình ngân hàng đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường tài chính. Các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển thì phải tạo ra một vị thế vững chắc trên thị trường, điều này đòi hỏi các ngân hàng phải đa dạng hoá các hoạt động của mình, đa dạng hoá các phương thức cho vay để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường.

Xu hướng quốc tế hoá thị trường tài chính quốc tế đã tạo nên một nền kinh tế thế giới ngày càng liên kết chặt chẽ hơn, trong đó diễn biến thị trường tài chính một nước có ảnh hưởng quan trọng đến thị trường tài chính các nước khác. Mặt khác, thị trường tài chính thế giới đang thay đổi nhanh chóng với những công cụ tài chính mới. Công nghệ ngân hàng ngày nay trở nên sôi động và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải đổi mới để tiếp cận và hoà nhập với thị trường tài chính thế giới. 

Đặc biệt khi Hiệp định thương mại Việt Mỹ được các cơ quan thẩm quyền lập pháp của Mỹ và Việt Nam chính thức phê chuẩn đã mở ra cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng những cơ hội và thách thức mới. Dựa vào nội dung của Hiệp định thương mại Việt Mỹ ta có thể nhận thấy một vài thách thức đối với ngân hàng thương mại Việt Nam như sau: Trong một số năm đầu, khi còn ở trong “thời kì bảo lưu”, các ngân hàng thương mại phía Mỹ chưa triển khai hoạt động có tính chất “chiếm lĩnh” thị trường Việt Nam, mà chỉ đặt cơ sở thăm dò là chính. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Mỹ sẽ thực sự được đẩy mạnh, cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường tiền tệ Việt Nam vào giai đoạn được hưởng “đối xử quốc gia đầy đủ”. Họ sẽ triển khai mạnh các hoạt động mà ở các ngân hàng thương mại Việt Nam đáng lẽ phải được phát triển mạnh những năm qua nhưng lại rất lúng túng, vướng mắc vì cơ chế và môi trường pháp luật chưa thông thoáng. Đó là hoạt động thuê mua tài chính, và loại hình cho thuê tiêu dùng ở các đô thị lớn. Những hoạt động này là thế mạnh và đã ăn sâu vào xã hội Mỹ. Bằng ưu thế hàng hoá, công nghệ Mỹ khi được đưa vào thị trường Việt Nam, tư bản thương nghiệp Mỹ sẽ gắn kết với tư bản tài chính-ngân hàng để nắm vững và mở rộng hoạt động ở thị trường Việt Nam thông qua hai hình thức hoạt động trên. 

Ngoài ra, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại quốc doanh của ta hiện nay chỉ vào khoảng 11.500 tỉ VND, trong khi đó Hiệp định thương mại Việt Mỹ qui định đối với chi nhánh ngân hàng Mỹ phải có vốn do ngân hàng mẹ cấp với số vốn rất lớn. Do vậy gây bất lợi rất lớn cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Bởi vì vốn chủ sở hữu là cơ sở để xác định mức dư nợ tối đa đối với một khách hàng và cũng là cơ sở để xác định số lượng tiền huy động vào. Với số vốn khiêm tốn của mình, ngân hàng thương mại Việt Nam không thể tài trợ cho một dự án lớn nếu không có sự kết hợp của các ngân hàng khác. Như vậy nếu các ngân hàng thương mại Việt Nam không tăng được nguồn vốn chủ sở hữu của mình thì một mảng thị trường cho vay các dự án có vốn đầu tư lớn sẽ bị bỏ ngỏ và đây là cơ hội cho các ngân hàng Mỹ. 

Một ngân hàng áp dụng nhiều phương thức cho vay khác nhau sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bởi các nguyên nhân sau: 

Thứ nhất, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. 

Việc áp dụng nhiều phương thức cho vay của ngân hàng sẽ đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về vốn của nhiều đối tượng khách hàng, ngân hàng thương mại sẽ sử dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ tín dụng của mỗi ngân hàng. 

Điều này sẽ dẫn đến là giảm được chi phí quản lý, chi phí hoạt động, lợi nhuận tăng lên, hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng cũng sẽ tăng lên.

Thứ hai, đa dạng hoá các phương thức cho vay giúp cho ngân hàng thương mại phân tán và giảm thiểu rủi ro. 

Mỗi phương thức cho vay đều có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, vì thế việc áp dụng một phương thức cho vay với tất cả các đối tượng khách hàng trong một thời điểm là một việc làm rất mạo hiểm mang lại cho ngân hàng nhiều rủi ro. Hơn nữa nhu cầu về vốn của người đi vay là rất đa dạng do vậy mà việc áp dụng nhiều phương thức cho vay khác nhau là điều cần thiết, nó sẽ giúp ngân hàng có thể tránh được những rủi ro không đáng có.

Thứ ba, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ thúc đẩy các nghiệp vụ khác cùng phát triển. 

Khi áp dụng nhiều phương thức cho vay, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại tăng lên, cần có nhiều vốn để cho vay nhiều hơn, vì thế ngân hàng cần huy động nhiều tiền gửi hơn nữa, do vậy hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng cũng phát triển. Điều này cũng khiến các ngân hàng phải đưa ra nhiều mức kì hạn tiền gửi và mức lãi suất hấp dẫn người gửi tiền. Tương tự như vậy, khi hoạt động cho vay phát triển nhiều thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ của ngân hàng cũng tăng lên, do người đi vay có thể sử dụng vốn để thanh toán cho bạn hàng vì thế sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Mô hình một ngân hàng đa năng, phục vụ khách hàng theo phương thức “trọn gói” bao giờ cũng ưu việt hơn phương thức đơn lẻ của ngân hàng chuyên sâu. 

Thứ tư, đa dạng hoá các phương thức cho vay sẽ tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tiền tệ, tín dụng. 

Trong điều kiện có rất nhiều ngân hàng với các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều ngân hàng liên doanh với nước ngoài và các tổ chức tài chính tín dụng cùng hoạt động thì sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt hơn. Các ngân hàng, tổ chức tín dụng muốn tồn tại, phát triển và tạo được vị thế trên thị trường thì đều phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho đáp ứng kịp thời, thuận tiện các nhu cầu phong phú, đa dạng của khách hàng. Muốn vậy, ngân hàng phải đa dạng hoá hoạt động của mình, trong đó đa dạng hoá các phương thức cho vay là một điều không thể thiếu.

Việc đa dạng hoá còn tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin, tham gia trên thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán một cách thuận lợi và linh động hơn. Đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng là một giải pháp không thể thiếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại trong đó đa dạng hoá các phương thức cho vay là một phần không thể thiếu của đa dạng hoá hoạt động nói chung của ngân hàng. 

2.3. Nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hoá các phương thức cho vay 

Nhân tố khách quan: đó là tổng hợp các nhân tố bao gồm: kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật, khoa học công nghệ. Ngoài ra, rủi ro trong hoạt động tín dụng cao dẫn đến tính tất yếu trong việc đa dạng hoá các phương thức cho vay để giảm thiểu rủi ro tín dụng. 

Hiện nay, sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã tạo một môi trường kinh doanh lành mạnh, trao quyền tự chủ kinh doanh cho các TCTD. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho phép một ngân hàng có thể đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình đồng thời thúc đẩy việc thực hiện đa dạng hoá các phương thức cho vay.

Nhân tố chủ quan: bao gồm chủ trương, chính sách của ngân hàng (NHNo&PTNT Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản, cơ chế, chính sách, thể lệ nghiệp vụ phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi nhánh chủ động trong hoạt động kinh doanh); trình độ của cán bộ nhân viên ngân hàng; quy mô vốn của ngân hàng; trình độ công nghệ của ngân hàng (việc hiện đại hoá và quản lý dữ liệu tập trung đã làm cơ sở để ngân hàng phát triển, đa dạng hoá các phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu của khách hàng).