Những nội dung cơ bản về thuế giá trị gia tăng

thuế giá trị gia tăng
Những nội dung cơ bản về thuế giá trị gia tăng

Bạn đang làm luận văn về đề tài thuế giá trị gia tăng? Trong bài viết sau đây, luanvanketoan.net xin chia sẻ đến bạn những nội dung cơ bản về thuế giá trị gia tăng.

1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT là loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT tính trên giá bán chưa có thuế GTGT. Người sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm thu và nộp hộ người tiêu dùng. Người tiêu dùng mua sản phẩm với giá đã có thuế GTGT, vì vậy người tiêu dùng chính là người chịu khoản thuế này

2. Đặc điểm

Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không đánh trùng lặp nên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển SXKD nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm phù hợp với nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của nước ta.

3. Đối tượng nộp thuế, đối tượng không thuộc diện nộp thuế

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008; Căn cứ theo thông tư số 129/2008/TT-BTC, Bộ tài chính hướng dẫn thi hành về thuế GTGT như sau:

3.1. Đối tượng nộp thuế

Theo quy định của pháp luật, đối tượng nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề,hình thức, tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ thuộc diện nộp thuế GTGT đều là đối tượng nộp thuế GTGT.

3.2. Đối tượng chịu thuế

Là các hàng hoá dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT do luật quy định.

3.3. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế

Ở nước ta pháp luật hiện hành quy định có 25 nhóm hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT được quy định tại điều 5 luật thuế GTGT năm 2008. Các nhóm hàng hoá này có thể xếp theo tính chất và mục đích kinh tế xã hội sau đây:

Hàng hoá, dịch vụ mang tính chất thiết yếu, phục vụ lợi ích nhu cầu đời sống cộng đồng, không mang tính chất kinh doanh: văn hoá, y tế, giáo dục, dịch vụ công cộng…

Hàng hoá mang tính chất phục vụ nhu cầu đặc biệt của nhà nước hoặc cần bảo mật như: vũ khí, tài nguyên chuyên dùng phục vụ an ninh quốc phòng…

Hàng hoá, dịch vụ của các cá nhân kinh doanh có mức thu nhập thấp.

Hàng hoá, dịch vụ khó xác định thuế GTGT do khó xác định giá trị tăng thêm: dịch vụ tín dụng, quỹ đầu tư, hoạt động kinh doanh chứng khoán…

Hàng hoá, dịch vụ khác như các loại bảo hiểm không nhằm mục đích kinh doanh.Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT thì không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào trừ trường hợp áp dụng mức thuế suất 0% được quy định tại khoản 1 điều 8 luật thuế GTGT năm 2008

3. Vai trò của thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT là nguồn thu lớn và quan trọng của Ngân sách nhà nước. Ở Việt Nam, thuế GTGT hiện nay chiếm tỷ trọng ổn định khoảng 20-25% trong tổng thu từ thuế, phí và lệ phí

Khuyến khích xuất khẩu HHDV thông qua áp dụng thuế suất 0%, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ không những không phải chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu mà còn được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá HHDV xuất khẩu trên thị trường quốc tế.

Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán kế toán; sử dụng hoá đơn, chứng từ và thanh toán qua ngân hàng. Nếu hệ thống chứng từ tốt thì Thuế GTGT không chỉ giúp tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước mà còn giúp kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó thu, kiểm tra Thuế GTGT còn làm cơ sở cho việc đối chiếu số thu các loại thuế khác.

4. Căn cứ tính thuế

4.1. Giá tính thuế

Giá tính thuế GTGT được xác định cụ thể như sau: Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra hoặc cùng ứng cho đối tượng khác là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ( TTĐB ) là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT. Giá tính thuế đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừ các khoản phụ thu và phí mà cơ sở kinh doanh phải nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tính thuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hóa đơn.

Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.

(Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm)

Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho, trả thay lương cho người lao động, là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

– Hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ là hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng sử dụng cho tiêu dùng của cơ sở kinh doanh, không bao gồm hàng hoá, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh của cơ sở.

– Hàng hoá luân chuyển nội bộ như xuất hàng hoá để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh không phải tính, nộp thuế GTGT

Đối với hoạt động cho thuê tài sản như cho thuê nhà, văn phòng, xưởng, kho tàng, bến, bãi, phương tiện vận chuyển, máy móc, thiết bị là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT.

– Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT.

– Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài thuộc loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài.

– Giá cho thuê tài sản do các bên thỏa thuận được xác định theo hợp đồng. Trường hợp pháp luật có quy định về khung giá thuê thì giá thuê được xác định trong phạm vi khung giá quy định.

4.2. Thuế suất thuế giá trị gia tăng

Thuế suất được xác định là “linh hồn” của mỗi luật thuế, thuế suất GTGT được áp dụng thống nhất theo loại hàng hoá, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu hay gia công hay kinh doanh thương mại. Hiện hành có các mức thuế suất : 0%, 5%. 10% được quy định rõ với từng loại hàng hoá dịch vụ tại điều 8 luật thuế GTGT năm 2008. Mục tiêu của thuế GTGT không phải để trực tiếp điều chỉnh sự chênh lệch về thu nhập hay tài sản vì vậy thuế GTGT thường có ít mức thuế suất, ít khi đặt ra vấn đề miễn giảm thuế, đảm bảo đơn giản, ít gây ra sự méo mó.